Thursday, September 3, 2026

DÒNG TRÔI NỖI NHỚ_ CHỈNH LẠI CÁC TRANG VIẾT CŨ

 







Lời Mở Đầu

 

Lời Mở Đầu

 

 Trước đây tôi có in một tập truyện ngắn lấy tên là “Kẻ Đào Huyệt” năm 2011.Tập truyện nầy gần giống như một ký sự về đời sống của tôi trải qua một chặng đường từ thời tuổi trẻ cho đến kết thúc chiến tranh năm 1975 và vài năm kế tiếp trước khi đi định cư tại Mỹ.

 Tập hồi ký nầy là một tập hợp ký ức dài hơn, bao gồm chặng đường đã viết trong tập truyện “Kẻ Đào Huyệt”, cho nên có một vài đoạn tôi phải dùng lại một vài truyện ở tập truyện nầy.

 Tập hồi ký “Dòng Trôi Nỗi Nhớ” là ghi lại trang sữ gia đình mà tôi là một nhân tố trong đó, hầu làm một kỷ vật cho con cháu, anh em, thân tộc, để biết về nguồn cội của gia đình mình.

  Tôi muốn phơi trải bóng dáng, tâm tình của tôi qua những dòng chữ trong tập sách… chắc sẽ còn ở lại ở thế gian nầy một khi tôi đã ra đi miên viển.  

 

                               Huỳnh Tâm Hoài

                           Sacramento năm 2016

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGUỒN CỘI

 

CHƯƠNG 1

NGUỒN CỘI

Ông nội tôi vốn là người Tiều Châu chính gốc từ bên Trung Hoa sang Việt Nam lập nghiệp khi ông còn ngoài hai mươi tuổi. Ông đã từng lập gia đình ở bên đó nhưng chưa có con. Trong lúc kinh tế khó khăn nơi quê nhà, ông một mình quảy bị, theo đoàn người tìm đường sinh sống. Nhiều người trong vùng theo đường biển, lần lượt tìm về phương Nam.

Sau nhiều lần đi đó đây buôn bán trong vùng Trà Vinh, cuối cùng ông định cư tại làng Long Hiệp, quận Trà Cú. Tại đây, ông lập gia đình với bà nội tôi, cũng là người gốc Hoa nhưng gia đình đã đến sinh sống ở vùng đất này từ nhiều đời trước.

Nhắc đến người Tiều Châu ở miền Tây Nam Bộ, người ta thường nhớ đến câu:

“Bạc Liêu đất ruộng phì nhiêu,
Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều Châu.”

Câu ca dao ấy phần nào cho thấy dấu ấn của cộng đồng người Tiều Châu trong đời sống vùng đất phương Nam. Người Hoa đến Nam Bộ qua nhiều đợt và bằng nhiều con đường khác nhau. Một bộ phận đến từ các vùng ven biển phía Nam Trung Hoa, theo đường biển vào các cửa sông, vùng ven biển và những nơi có điều kiện buôn bán thuận lợi. Một bộ phận khác đến trong những biến động chính trị ở Trung Hoa vào cuối thế kỷ XVII, thường được lịch sử gọi là người Minh Hương.

Trong quá trình khai phá phương Nam, người Hoa, người Việt và người Khmer đã cùng hiện diện, giao lưu và tạo nên những cộng đồng cư dân có tính chất rất đặc biệt. Người Hoa thường tập trung ở những nơi có chợ búa, bến sông, bến ghe, thuận tiện cho việc trao đổi hàng hóa. Họ làm nghề buôn bán, mở tiệm thuốc Bắc, tiệm tạp hóa, quán ăn; rồi dần dần phát triển thêm những cơ sở sản xuất nhỏ như làm tương, chao, đậu hũ, các nhà máy xay lúa, chành lúa...

Những cộng đồng người Hoa cũng hình thành các bang, hội theo từng nhóm phương ngữ và nguồn gốc như Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ... Những sinh hoạt ấy không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn góp phần tạo nên diện mạo văn hóa đa dạng của các đô thị, thị tứ và chợ quê miền Nam.

Người Việt đến Nam Bộ cũng trải qua nhiều đợt di dân. Có người từ miền Trung, miền Bắc vào Nam tìm đất sống; có người theo những đoàn khai phá của các chúa Nguyễn; có người vì hoàn cảnh gia đình, chiến tranh, thiên tai hoặc vì muốn tìm một vùng đất mới mà ra đi.

Quá trình ấy diễn ra trong một thời gian rất dài, không phải chỉ trong một thời điểm duy nhất.

Từ thế kỷ XVII trở đi, các chúa Nguyễn từng bước mở rộng vùng kiểm soát về phía Nam, đồng thời tổ chức việc khai phá và lập các đơn vị hành chính mới. Những lưu dân người Việt, người Hoa và các nhóm cư dân khác cùng tham gia vào quá trình hình thành những vùng cư trú mới.

Đến cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, những biến động lớn của lịch sử tiếp tục làm cho dòng người di chuyển về phương Nam thêm đông đúc. Sau khi Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn và lên ngôi Gia Long năm 1802, vùng đất Nam Bộ tiếp tục được tổ chức và phát triển trong một hệ thống hành chính thống nhất.

Nhưng nếu chỉ nhìn lịch sử Nam Bộ bằng những mốc triều đại thì vẫn chưa đủ. Đằng sau những tên gọi của vua chúa, những cuộc chiến tranh và những thay đổi về địa giới là hàng vạn con người bình thường: người đi khai hoang, người làm ruộng, người đánh cá, người buôn bán, người làm muối, người dựng nhà, đào kinh, mở đường và lập làng.

Chính những con người ấy mới là những người đặt dấu chân đầu tiên lên nhiều vùng đất mà về sau trở thành quê hương của con cháu họ.

 

Theo nhiều tài liệu lịch sử, những nhóm người Hoa di cư xuống phương Nam đã đóng một vai trò đáng kể trong việc khai phá và phát triển kinh tế ở Nam Bộ. Một số nhân vật và cộng đồng người Hoa tham gia vào việc mở mang những vùng đất mới, tiêu biểu như Mạc Cửu ở Hà Tiên và Mạc Thiên Tứ về sau.

Ở Gia Định, Mỹ Tho, Hà Tiên và nhiều vùng khác, người Hoa tham gia mạnh vào thương mại, thủ công nghiệp và giao thông đường thủy. Những bến sông, chợ búa, phố thị dần trở thành nơi giao lưu giữa các cộng đồng cư dân.

Tại vùng Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, người Hoa cũng sống xen cư với người Việt và người Khmer. Mỗi cộng đồng mang theo phong tục, tín ngưỡng, nghề nghiệp và cách tổ chức đời sống riêng; nhưng qua nhiều thế hệ, những yếu tố ấy dần hòa quyện với nhau.

Người Việt thường mở đất, làm ruộng, làm rẫy, đánh cá, làm muối, làm củi; người Khmer vốn cư trú lâu đời trong vùng có truyền thống canh tác lúa nước và gắn bó với phum sóc, chùa chiền; người Hoa nổi bật với hoạt động thương mại, thủ công và dịch vụ. Tuy nhiên, đó chỉ là những nét khái quát. Trên thực tế, nghề nghiệp của ba cộng đồng luôn có sự giao thoa.

Chính sự giao thoa ấy đã tạo nên một vùng văn hóa mà người sau khó có thể phân chia rạch ròi đâu là của riêng người Việt, đâu là của riêng người Hoa, đâu là của riêng người Khmer.

BA SẮC DÂN VÀ MỘT VÙNG VĂN HÓA

Trà Vinh là một trong những vùng đất tiêu biểu cho sự giao thoa ấy.

Người Khmer có chùa Khmer, phum sóc, lễ hội và những sinh hoạt văn hóa riêng. Người Hoa có miếu, hội quán, tín ngưỡng Quan Công và những phong tục truyền thống được mang theo từ quê cũ. Người Việt có đình làng, chùa, nhà thờ và nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian.

Về sau, vùng đất này còn có sự hiện diện của Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và nhiều sinh hoạt tín ngưỡng khác.

Tất cả cùng tồn tại, tiếp xúc và ảnh hưởng lẫn nhau qua nhiều thế hệ.

Ba cộng đồng cư dân sống xen kẽ đã làm nên một nền văn hóa miền đất giồng rất đa dạng và phong phú.

VÌ SAO GỌI LÀ ĐẤT GIỒNG?

Gọi là đất giồng bởi vùng đất này có những dải đất cao, thường là những giồng cát hoặc những vùng đất tương đối cao hơn chung quanh, hình thành trong quá trình bồi tụ lâu dài của sông ngòi, biển và các dòng phù sa.

Trà Vinh nằm trong vùng hạ lưu sông Mekong, giữa hệ thống những nhánh sông lớn và hướng ra biển Đông. Địa hình nơi đây có đồng bằng, sông rạch, cồn, bãi bồi và những giồng cát ven biển. Chính điều kiện tự nhiên ấy đã tạo nên một không gian cư trú rất đặc biệt.

Những vùng đất cao ráo trên các giồng thường là nơi con người chọn để dựng nhà, lập xóm, trồng cây ăn trái và tổ chức đời sống. Phía giữa các giồng có những vùng trũng hơn, thuận lợi cho việc giữ nước và canh tác lúa.

Đất cứ tiếp tục được bồi đắp qua thời gian. Những bãi bồi mới xuất hiện, những cồn mới hình thành, rồi con người lại tìm đến khai phá.

Có những dải đất chưa nổi hẳn lên khỏi mặt nước, dân gian gọi là lương. Ghe thuyền đi lại trong vùng cửa sông, ven biển nếu không quen luồng lạch rất dễ mắc cạn trên những con lương ấy. Có khi chân vịt bị cong, có khi đáy ghe bị va đập hư hỏng.

Đó là những kinh nghiệm mà người dân vùng sông nước truyền từ đời này sang đời khác.

 

 

 

THỜI NIÊN THIẾU

 

CHƯƠNG 2

THỜI NIÊN THIẾU

QUÊ NỘI, QUÊ NGOẠI TRONG KÝ ỨC

Quê ngoại của tôi ở quận Cầu Ngang, làng Thủy Hòa, nơi người dân còn gọi là ấp Nô Công; quê nội ở quận Trà Cú, làng Long Hiệp, mà bà con địa phương thường gọi là Trà Sất.

Những địa danh ấy đối với người ngoài có thể chỉ là những cái tên trên bản đồ. Nhưng đối với tôi, mỗi cái tên là một phần ký ức: một con đường, một bến nước, một mùa cá, một mùa muối, một mái nhà và cả một tuổi thơ đã đi qua.

Tuổi thơ của tôi gắn với những vùng quê ấy, với những con đường đất, những bờ ruộng, những bãi cát, những dòng kinh và những ngày tháng theo má về thăm quê ngoại.

NHỮNG MÙA THƠ ẤU

Lúc còn nhỏ, mỗi dịp Tết hoặc nghỉ hè, tôi thường được má đưa về thăm quê ngoại. Tôi thích nhất là chạy trên những bãi cát cùng mấy người anh em cô cậu.

Sau mùa vụ, trên những luống khoai vẫn còn sót lại những củ nằm dưới lớp đất. Bọn trẻ chúng tôi tha hồ moi tìm. Có củ vừa đào lên còn nóng hổi, đem ăn ngay, ruột khoai bở, giòn giòn và ngọt lịm.

Những ngày ấy, chỉ một củ khoai tìm được cũng đủ làm chúng tôi vui cả buổi.

Có khi chúng tôi đi đào hang bắt dế đá, dế cơm. Chiều xuống, ông ngoại thường un khói ngoài rẫy bằng phân trâu khô. Khói bay lên, bọ rầy từ trong những bụi cây và đồng ruộng bay tứ tung. Bọn trẻ chúng tôi chạy theo bắt trên những nhánh sầu đâu hoặc những cây đào lộn hột.

Những con ấu trùng sống trong đất, chúng tôi thường gọi là đuông đất. Mỗi khi ông ngoại cuốc đất làm rẫy, bọn trẻ chúng tôi lại tha hồ tìm bắt đuông và dế.

Đuông đất và dế cơm đem rang với muối, ăn với cơm và chan thêm chút nước canh rau, vậy mà ngon đến lạ. Dế thì chỉ cần lặt đầu, bẻ càng. Đuông thì phải ngâm qua nước muối cho nhả đất, rồi làm sạch phần ruột trước khi rang.

Sau này, dì Tám của tôi còn nghĩ ra cách nhét đậu phộng vào bụng con đuông, con dế rồi đem chiên giòn. Món ăn dân dã ấy đối với bọn trẻ chúng tôi khi đó chẳng khác gì một món đặc sản.

Nói đến đuông lại phải nhớ đến đuông chà là.

Hồi nhỏ tôi không thích loại này. Nó to gần bằng ngón chân cái, lại ngo ngoe lúc nhúc, nhìn thấy mà gớm gớm. Nhưng về sau, khi lớn lên, biết lai rai với chút rượu đế Xuân Thạnh, tôi mới thấy món đuông chà là quả thật là một thứ đặc sản rất riêng của miền quê.

Đuông chà là là ấu trùng của một loài bọ cánh cứng sống trong thân cây họ cau, chà là. Những cây chà là ngày trước mọc khá nhiều ở vùng Bến Giá, Long Toàn. Người quê có kinh nghiệm nhìn cây chà là nào mà đọt bị quặt, bị héo hoặc gãy khác thường thì đoán ngay bên trong có thể có đuông.

Cây được đốn xuống, người ta lấy dao đẵn từng khúc gần phần ngọn rồi bó lại đem ra chợ bán. Có nơi bó thành từng chục ngọn.

Những thứ tưởng như rất bình thường của đồng quê ngày ấy, bây giờ nhớ lại mới thấy đó chính là một phần của tuổi thơ tôi.

Rồi còn món khô cá khoai trộn giấm với lá sầu đâu thái nhỏ. Vị chua, vị đắng, vị mặn của cá khô hòa với nhau, ăn lai rai cũng thấy “tới” lắm.

Ngày ấy, những món ăn ấy chẳng ai gọi là đặc sản. Chỉ là những gì quê mình có.

Nhưng chính những thứ bình dị ấy lại theo người ta suốt một đời.

BỮA CƠM VỚI ÔNG NGOẠI

Hồi đó, những bữa cơm trưa đôi khi tôi ngồi ăn với ông ngoại trong cái chòi nhỏ ngoài rẫy, được cất gần một bụi tre gai.

Ông ngoại ít nói. Lại thêm ông bị lãng tai nên tôi rất ít khi nói chuyện được với ông mỗi lần về thăm.

Mỗi lần má dẫn tôi về nhà ngoại, vừa xuống xe đò, vào nhà trong cởi áo ra là tôi chạy ngay ra ngoài rẫy.

Ông ngoại đang cuốc đất. Nhìn thấy tôi, ông ngừng tay, nói:

“Cháu mới qua hử...”

Rồi ông lại cúi xuống tiếp tục công việc.

Suốt thời thơ ấu, hình như tôi không có dịp nói chuyện nhiều với ông. Có lẽ vì ông nghe không rõ, mà tôi thì nói quá nhỏ.

Lúc ấy tôi khoảng mười tuổi.

Trong ký ức của tôi, ông ngoại luôn là một người đàn ông ít lời, quanh năm gắn với mảnh rẫy, với cuốc đất, với những luống rau và những ngày nắng gió.

Duy chỉ có một lần tôi còn nhớ rất rõ.

Một lần ông bị bệnh. Má đỡ ông ngồi dậy và mớm cháo cho ông. Tôi đứng gần trước mặt ngoại. Ông nhìn tôi rồi nói:

“Cháu đấm lưng cho ông, ông mỏi quá.”

Tôi hỏi:

“Đấm chỗ nào?”

Ông chỉ cho tôi.

Tôi dùng hai bàn tay nhỏ bé của mình đấm nhẹ hai bên vai ông. Một lúc sau, ông xoa đầu tôi rồi nói:

“Ông thấy khỏe quá!”

Tôi vui lắm.

Tôi đi ngủ và còn hứa khi thức dậy sẽ đấm lưng tiếp cho ông.

Nhưng tôi không có dịp nữa.

Tôi chợt tỉnh giấc vì nghe tiếng má khóc thút thít:

“Cậu ơi... cậu bỏ con đi rồi...”

Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy ông ngoại.

Một cái chết rất bình thường của một người già ở quê, nhưng đối với một đứa trẻ mười tuổi, đó là lần đầu tiên tôi hiểu rằng có những người mình thương, khi đã đi rồi thì không bao giờ trở lại.

CÂU CHUYỆN VỀ HỌ NGOẠI

Theo lời má kể lại, trước khi mất, ông ngoại có trối trăn rằng khi lập mộ bia nên ghi họ Trịnh.

Tôi không biết chuyện ấy có thật sự liên quan đến nguồn gốc dòng họ hay không. Tôi chỉ nhớ lời má kể và từ đó tự suy nghĩ.

Có thể tổ tiên bên ngoại tôi vốn mang họ Trịnh?

Có thể những thế hệ trước đã từ phương Bắc di cư vào phương Nam?

Hay trong những biến động của lịch sử, dòng họ đã có lúc thay đổi họ tên vì hoàn cảnh?

Tất cả những điều đó, đến nay tôi không còn đủ tài liệu để xác nhận.

Tôi chỉ có thể ghi lại như một mảnh ký ức gia đình.

Má tôi gọi ông ngoại bằng tiếng “Cậu”. Cách gọi ấy cũng làm tôi suy nghĩ. Trong nhiều gia đình người Việt ở Nam Bộ, cách gọi “cậu” dành cho người lớn tuổi trong họ ngoại là một tập quán rất quen thuộc. Mặt khác, trong cộng đồng người Hoa, trong đó có người Tiều Châu, cách xưng hô cũng có những âm gọi riêng như A Pa, A Ma...

Có lẽ qua nhiều đời sống xen lẫn, tiếng nói và cách xưng hô của các cộng đồng cũng đã ảnh hưởng lẫn nhau.

Những điều ấy rất khó phân định rạch ròi.

Nhưng chính sự pha trộn ấy lại làm cho đời sống quê tôi có một nét riêng mà tôi đã nghe, đã sống và đã mang theo từ thuở nhỏ.

 

NHỮNG NGƯỜI CẬU BÊN NGOẠI

Họ hàng bên ông bà ngoại tôi sống rải rác ở quận Cầu Ngang và vùng Long Toàn.

Lúc nhỏ, tôi chỉ biết những cậu, mợ, cô, dì sống quanh nhà ông ngoại ở ấp Nô Công, xã Mỹ Hòa. Một số bà con ở xa, tôi chỉ nghe má nhắc tên chứ chưa bao giờ gặp mặt.

Duy có người cậu thứ ba, anh ruột của má, là người tôi còn giữ được một hình ảnh rất mơ hồ trong ký ức.

Khoảng những năm 1940, trong thời kỳ chiến tranh và biến động, cậu tham gia hoạt động kháng chiến. Cậu bị bệnh sốt rét rất nặng. Có lần má dẫn tôi đi rất xa, tận vùng Cồn Ngao, để thăm cậu.

Tôi còn nhớ mang máng gương mặt cậu xương xương, có nhiều nét giống ông ngoại. Người cậu gầy ốm, đôi mắt có vẻ mệt mỏi vì bệnh, nhưng khi nhìn tôi, ánh mắt vẫn rất mạnh.

Cậu gọi tôi và người anh thứ ba, con ruột của cậu, đến bên giường bệnh.

Cậu vuốt đầu hai đứa rồi căn dặn:

“Hai con nhớ ráng học hành đàng hoàng, để trở thành người hữu dụng cho đất nước. Cậu chắc không sống được lâu, vì cậu biết sức mình...”

Nói xong, cậu ngả lưng xuống chiếc vạt tre.

Tôi và anh Ba lại chạy ra ngoài chơi.

Trẻ con ngày ấy đâu hiểu được những lời nói đó có thể là lời từ biệt.

Ngày hôm sau, tôi theo má trở về Cồn Cù.

Từ đó, tôi không còn gặp cậu nữa.

Sau này má mới nói cho tôi biết cậu đã mất và được chôn cất ở vùng ấy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG NĂM CHIẾN TRANH

 CHƯƠNG 3

NHỮNG NĂM CHIẾN TRANH

Tuổi thơ của tôi không chỉ có những ngày theo má về quê ngoại, những buổi chạy chơi trên bãi cát, đào khoai, bắt dế hay theo ông ngoại ra rẫy. Đó cũng là những năm tháng chiến tranh bắt đầu phủ bóng lên quê hương.

Tôi sinh năm 1943. Khi tôi còn quá nhỏ để hiểu chiến tranh là gì, những biến động của thời cuộc đã đẩy gia đình tôi vào cảnh phải rời bỏ nơi đang sinh sống để tìm chỗ lánh nạn.

Khoảng năm 1945 xảy ra biến cố mà người trong vùng thường nhắc đến với tên gọi Cáp Duồn. Tôi khi ấy chỉ là một đứa trẻ nên những gì còn lại trong trí nhớ rất ít. Phần lớn câu chuyện về thời gian này, về sau tôi được nghe má và những người lớn trong gia đình kể lại.

Giữa lúc tình hình bất ổn, gia đình tôi phải rời quê, tản cư về Cồn Cù.

Từ đó, Cồn Cù trở thành một địa danh gắn liền với những năm đầu đời của tôi.

Tôi lớn lên giữa một thời mà người dân quê không biết ngày mai chuyện gì sẽ xảy đến. Chiến tranh đối với một đứa trẻ lúc ấy không phải là những điều được viết trong sách sử. Nó hiện ra qua những câu chuyện của người lớn, qua những lần gia đình phải dời chỗ ở, qua những người thân ra đi rồi có người không trở lại.

Ngay trong gia đình bên ngoại, tôi cũng đã sớm nhìn thấy dấu vết của thời cuộc. Người cậu thứ ba, anh ruột của má, tham gia hoạt động kháng chiến trong những năm chiến tranh. Cậu bị sốt rét nặng và mất khi tôi còn nhỏ.

Tôi còn nhớ lần má dẫn tôi đi tận vùng Cồn Ngao để thăm cậu. Khi ấy tôi chưa hiểu rằng lời cậu căn dặn chúng tôi ráng học hành để trở thành người hữu dụng cho đất nước lại gần như là lời từ biệt.

Trẻ con đâu biết chiến tranh là gì.

Chúng tôi vẫn chạy chơi, vẫn đói thì tìm cái ăn, vẫn vui với những điều rất nhỏ. Nhưng chung quanh tuổi thơ bình thường ấy là một thế giới của người lớn đầy những lo âu, ly tán và mất mát.

Sau này lớn lên, mỗi khi nhớ lại, tôi mới hiểu rằng chiến tranh đã bước vào cuộc đời mình từ lúc tôi còn chưa đủ tuổi để biết hai chữ chiến tranh có nghĩa là gì.

Cồn Cù vì thế không chỉ là nơi gia đình tôi từng tản cư.

Đó còn là một phần của tuổi thơ, một dấu mốc của những năm tháng quê hương nhiều biến động, và là nơi những ký ức đầu tiên của đời tôi bắt đầu hình thành.

HỒI CƯ – BA TÔI BỊ BẮT

Sau những năm tản cư ở Cồn Cù, gia đình chúng tôi hồi cư trở về quê. Những tưởng từ đây cuộc sống sẽ dần yên ổn, nhưng chiến tranh và những nghi kỵ của thời cuộc vẫn chưa buông tha gia đình tôi.

Mới hồi cư từ Cồn Cù về, gia đình chúng tôi ăn ở tạm tại nhà người cô thứ Ba ở ấp Xoài Xiêm. Ba vốn là người buôn bán, nhưng lúc này gần như không còn vốn liếng. Ba gom góp được một ít tiền, lên Trà Vinh mua thuốc rê về bán lẻ tại chợ quận, mong kiếm chút lời để nuôi gia đình.

Ba lên xuống từ quận lên Trà Vinh được vài lần thì một hôm, vừa ôm bao thuốc rê bước xuống xe tại bến xe quận, ba bất ngờ bị lính tới vây bắt, trói lại rồi dẫn vào dinh quận.

Ba ngơ ngác, không biết mình phạm tội gì. Những người chung quanh cũng hoảng sợ, chẳng ai hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Họ đưa ba vào dinh quận để tra khảo vì nghi ba là người của Việt Minh từ xứ Cồn trở về hoạt động.

Hay tin ba bị bắt, má dẫn anh em chúng tôi cùng bà nội từ ấp Xoài Xiêm chạy bộ về dinh quận.

Đến nơi, trước mắt chúng tôi là một cảnh tượng mà suốt đời tôi không thể nào quên.

Ba bị trói quặp hai tay ra phía sau, nằm ngửa giữa sân. Một người vạch miệng ba, một người đổ cả thùng nước vào miệng. Ba bị sặc sụa, oằn mình đau đớn. Chúng lại dùng chân đạp vào cái bụng đang căng phồng nước của ba.

Ba đau đớn kêu lên:

“Trời ơi!”

Nước và thức ăn phọt trào ra. Nước mắt ba cũng ràn rụa.

Chúng tôi đứng bên ngoài nhìn thấy tất cả mà lòng quặn thắt.

Bà nội bò lết vào bên trong, đến trước viên Cai Tổng người Khmer đang đứng khoanh tay trên bậc thềm dinh quận.

Bà vừa lết tới gần vừa van xin:

“Bòn ơi, tha cho con tôi đi. Nó có tội gì đâu...!”

Viên Cai Tổng quay người bỏ vào bên trong.

Bà nội gập người xuống, gào khóc thảm thiết.

Tôi đứng đó, còn quá nhỏ để hiểu hết những chuyện của người lớn, nhưng trong đầu cứ vang lên một câu hỏi:

Tại sao họ lại hành hạ ba tôi như vậy?

Gia đình tôi chạy trốn bom đạn, nay trở về chỉ mong tìm một nơi an cư, làm ăn sinh sống. Ba tôi chỉ mua một bao thuốc rê về bán kiếm tiền nuôi vợ con.

Ba tôi có tội gì?

Nhìn ba nằm giữa sân, bị trói và hành hạ, trong lòng đứa trẻ là tôi lúc ấy bỗng dâng lên một nỗi uất nghẹn.

Tôi nói thầm:

“Ba ơi! Lớn lên con sẽ trả thù cho ba!”

Đó là suy nghĩ của một đứa trẻ khi tận mắt nhìn thấy cha mình bị hành hạ. Sau này lớn lên, trải qua nhiều biến cố của cuộc đời, tôi mới hiểu chiến tranh và thời cuộc đã đẩy biết bao con người vào những hoàn cảnh mà chính họ cũng không thể lựa chọn.

Để cứu ba, má phải bán gần hết những gì quý giá còn lại trong gia đình.

Má bán đồ nữ trang ngày cưới, bán cả chiếc máy may mà bà ngoại đã mua cho má khi xuất giá. Số tiền có được, má đổi từ tiền đỏ sang tiền xanh rồi mượn thêm của ông Củ mới đủ tiền chuộc ba ra.

Ba trở về với gia đình, nhưng trận đòn và những ngày bị hành hạ đã làm sức khỏe ba suy kiệt.

Ba bệnh suốt gần một năm trời mới dần dần gượng dậy.

Và rồi, từ hai bàn tay gần như trắng, ba má tôi lại bắt đầu gây dựng cuộc sống một lần nữa

HỒI CƯ – BA TÔI BỊ BẮT

 HỒI CƯ – BA TÔI BỊ BẮT

Sau những năm tản cư ở Cồn Cù, gia đình chúng tôi hồi cư trở về quê. Những tưởng từ đây cuộc sống sẽ dần yên ổn, nhưng chiến tranh và những nghi kỵ của thời cuộc vẫn chưa buông tha gia đình tôi.

Mới hồi cư từ Cồn Cù về, gia đình chúng tôi ăn ở tạm tại nhà người cô thứ Ba ở ấp Xoài Xiêm. Ba vốn là người buôn bán, nhưng lúc này gần như không còn vốn liếng. Ba gom góp được một ít tiền, lên Trà Vinh mua thuốc rê về bán lẻ tại chợ quận, mong kiếm chút lời để nuôi gia đình.

Ba lên xuống từ quận lên Trà Vinh được vài lần thì một hôm, vừa ôm bao thuốc rê bước xuống xe tại bến xe quận, ba bất ngờ bị lính tới vây bắt, trói lại rồi dẫn vào dinh quận.

Ba ngơ ngác, không biết mình phạm tội gì. Những người chung quanh cũng hoảng sợ, chẳng ai hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Họ đưa ba vào dinh quận để tra khảo vì nghi ba là người của Việt Minh từ xứ Cồn trở về hoạt động.

Hay tin ba bị bắt, má dẫn anh em chúng tôi cùng bà nội từ ấp Xoài Xiêm chạy bộ về dinh quận.

Đến nơi, trước mắt chúng tôi là một cảnh tượng mà suốt đời tôi không thể nào quên.

Ba bị trói quặp hai tay ra phía sau, nằm ngửa giữa sân. Một người vạch miệng ba, một người đổ cả thùng nước vào miệng. Ba bị sặc sụa, oằn mình đau đớn. Chúng lại dùng chân đạp vào cái bụng đang căng phồng nước của ba.

Ba đau đớn kêu lên:

“Trời ơi!”

Nước và thức ăn phọt trào ra. Nước mắt ba cũng ràn rụa.

Chúng tôi đứng bên ngoài nhìn thấy tất cả mà lòng quặn thắt.

Bà nội bò lết vào bên trong, đến trước viên Cai Tổng người Khmer đang đứng khoanh tay trên bậc thềm dinh quận.

Bà vừa lết tới gần vừa van xin:

“Bòn ơi, tha cho con tôi đi. Nó có tội gì đâu...!”

Viên Cai Tổng quay người bỏ vào bên trong.

Bà nội gập người xuống, gào khóc thảm thiết.

Tôi đứng đó, còn quá nhỏ để hiểu hết những chuyện của người lớn, nhưng trong đầu cứ vang lên một câu hỏi:

Tại sao họ lại hành hạ ba tôi như vậy?

Gia đình tôi chạy trốn bom đạn, nay trở về chỉ mong tìm một nơi an cư, làm ăn sinh sống. Ba tôi chỉ mua một bao thuốc rê về bán kiếm tiền nuôi vợ con.

Ba tôi có tội gì?

Nhìn ba nằm giữa sân, bị trói và hành hạ, trong lòng đứa trẻ là tôi lúc ấy bỗng dâng lên một nỗi uất nghẹn.

Tôi nói thầm:

“Ba ơi! Lớn lên con sẽ trả thù cho ba!”

Đó là suy nghĩ của một đứa trẻ khi tận mắt nhìn thấy cha mình bị hành hạ. Sau này lớn lên, trải qua nhiều biến cố của cuộc đời, tôi mới hiểu chiến tranh và thời cuộc đã đẩy biết bao con người vào những hoàn cảnh mà chính họ cũng không thể lựa chọn.

Để cứu ba, má phải bán gần hết những gì quý giá còn lại trong gia đình.

Má bán đồ nữ trang ngày cưới, bán cả chiếc máy may mà bà ngoại đã mua cho má khi xuất giá. Số tiền có được, má đổi từ tiền đỏ sang tiền xanh rồi mượn thêm của ông Củ mới đủ tiền chuộc ba ra.

Ba trở về với gia đình, nhưng trận đòn và những ngày bị hành hạ đã làm sức khỏe ba suy kiệt.

Ba bệnh suốt gần một năm trời mới dần dần gượng dậy.

Và rồi, từ hai bàn tay gần như trắng, ba má tôi lại bắt đầu gây dựng cuộc sống 

GẦY DỰNG LẠI TỪ HAI BÀN TAY TRẮNG

 

GẦY DỰNG LẠI TỪ HAI BÀN TAY TRẮNG

Sau khi ba khỏi bệnh, ba má lại bắt đầu gây dựng cuộc sống từ hai bàn tay trắng.

Ba má vay mượn thêm tiền của ông Củ để cất tạm một căn nhà nhỏ, cột tre xiêu vẹo. Ba lại lên tỉnh mua một ít hàng hóa đem về bán tại nhà.

Cơ nghiệp lúc ấy chẳng có gì đáng kể, chỉ là một túm vải nhỏ bày bán ở căn nhà nằm đầu đường Ngã Ba.

Nhưng việc buôn bán không được khấm khá vì nhà ở xa chợ, khách qua lại ít.

Khó khăn chưa qua thì tai họa khác lại đến.

Chỉ vài tháng sau, một đêm bọn trộm xông thuốc mê rồi cạy cửa vào nhà. Chúng lấy sạch túm hàng hóa, chiếc vali nhỏ, một ít tiền và cả đôi bông tai còn lại của má.

Đêm ấy, đứa em trai nhỏ của tôi chợt thức giấc gọi:

“Ba ơi! Ba ơi!”

Em đòi đi tiểu. Ba má thức dậy mới hay tất cả gia tài còn lại trong nhà gần như đã mất sạch.

Ba má buồn rầu suốt cả tháng.

Cơ nghiệp vừa mới gượng lên được một chút thì lại tiêu tan.

Nhưng ba má không chịu đầu hàng.

Sau nhiều lần bàn tính, ba má quyết định bán căn nhà nhỏ ấy để dọn vào gần khu chợ. Ở đó vừa an toàn hơn, vừa thuận tiện cho việc buôn bán.

Má lại phải vay thêm tiền của Ý Hai, chị ruột của má, để mua một căn nhà gần chợ.

Buôn bán vốn là sở trường của ba. Ngoài nghề ấy ra, ba cũng chẳng biết làm gì khác để nuôi một gia đình ngày càng đông con.

Với chút vốn liếng còn lại, ba được những người bạn quen giới thiệu với một số chủ tiệm ở Trà Vinh để mua hàng về bán tại chợ.

Nghe nói ba cũng là người Hoa, những chủ tiệm ấy có ý giúp đỡ. Khi gặp nhau, ba nói chuyện với họ bằng tiếng Tiều Châu nên càng tạo được sự gần gũi và tin tưởng.

Họ cho ba mua hàng chịu.

Ba lấy hàng về bán, có lời rồi mới trả vốn. Có người còn cho ba gối đầu tiền hàng để tiếp tục buôn bán.

Nhờ vậy, công việc làm ăn của ba má dần dần khá lên.

Sau bao nhiêu biến cố — tản cư, hồi cư, ba bị bắt, gia sản gần như không còn, rồi lại bị trộm lấy sạch — gia đình tôi cuối cùng cũng bắt đầu đứng vững trở lại.

Không phải nhờ một vận may nào lớn lao.

Chỉ nhờ hai bàn tay cần cù của ba má và sự giúp đỡ của những người đã tin tưởng ba trong những ngày cơ cực nhất.

 

 

NHỮNG NGÀY ĐẦU ĐI HỌC

 

 

NHỮNG NGÀY ĐẦU ĐI HỌC

Tôi đi học hơi trễ so với những đứa trẻ cùng tuổi. Khi vào lớp Năm, tôi đã bảy tuổi, phải ngồi học chung với nhiều đứa nhỏ hơn mình.

Từ Cồn Cù trở về, tôi vẫn còn là một đứa trẻ quê mùa, ngờ nghệch. Bước vào trường học, mọi thứ đối với tôi đều mới lạ. Có lẽ vì vậy mà đôi khi tôi bị mấy đứa nhỏ cùng lớp ăn hiếp.

Một hôm, không nhịn được nữa, tôi đánh một đứa học trò người Khmer cùng lớp.

Chiều hôm ấy, ba của thằng nhỏ dẫn nó đến tận nhà tôi, đứng ngoài cửa la lớn:

“Ê, tụi mầy để con tụi mầy đánh con tao.”

Ba tôi gọi tôi ra hỏi:

“Con có đánh con của bòn này không?”

Tôi lấm lét nhận:

“Dạ có. Tại cái thằng Thổ này ăn hiếp con trước đó, ba.”

Vừa nghe tôi nói chữ “Thổ”, người đàn ông ấy nổi giận, trợn mắt:

“Ê, sao tụi mầy nói tụi tao là Thổ? Tao giết tụi mầy!”

Nói rồi ông ta sấn tới định chộp lấy tôi.

Tôi hoảng hồn chạy ra khỏi nhà. Ông ta rượt theo, miệng vẫn la:

“Mầy kêu con tao là Thổ, tao giết mầy!”

Ba tôi chạy theo, vừa can vừa xin lỗi:

“Cho tôi xin lỗi, bòn ơi! Tôi sẽ đem nó về dạy lại.”

Nghe vậy, ông ta mới dịu xuống:

“Ừ... xin lỗi... tao chịu đó. Nhớ bắt nó về dạy và không được nói tụi tao là Thổ nghe không?”

Sau chuyện ấy, ba căn dặn tôi từ nay không được gọi người Khmer bằng tiếng “Thổ” nữa.

Thuở ấy tôi đâu hiểu ý nghĩa của những cách gọi khác nhau. Những ngày sống ở Cồn Cù, tôi thường nghe người lớn chung quanh gọi như vậy nên trẻ con nghe sao thì bắt chước nói vậy.

Sau này lớn lên, tôi mới hiểu có những tiếng gọi tưởng bình thường đối với người nói nhưng lại có thể làm tổn thương người nghe.

Kỷ niệm nhỏ ấy cũng là một trong những bài học đầu đời của tôi về cách con người sống với nhau trên vùng đất có nhiều cộng đồng cùng chung sống.

 

 

 

MƯỜI ROI CỦA THẦY ĐỒNG

 

MƯỜI ROI CỦA THẦY ĐỒNG

Một kỷ niệm khác trong những ngày đầu đi học mà đến nay tôi vẫn còn nhớ là lần bị thầy giáo Đồng đánh oan.

Con của thầy học cùng lớp với tôi.

Một hôm hai đứa chạy giỡn với nhau. Trong lúc đùa giỡn, nó bị té trặc khuỷu tay. Sau đó, nó nói với thầy rằng chính tôi đã lôi kéo làm nó té.

Thầy Đồng không hỏi rõ đầu đuôi mà bắt tôi nằm sấp xuống rồi đánh mười roi.

Mười đường roi làm da thịt tôi rướm máu.

Tan học, tôi trở về nhà, vừa khóc vừa kể lại mọi chuyện với ba má.

Ba má cởi quần tôi ra xem.

Nhìn những vết roi trên người con, má xót xa nói:

“Thầy giáo gì mà đánh con người ta dữ dằn như vậy.”

Ba bảo tôi mặc quần lại rồi dẫn tôi sang nhà thầy Đồng hỏi cho ra lẽ.

Đến nơi, ba vạch những chỗ tôi bị đánh cho thầy xem rồi hỏi:

“Sao thầy đánh con tôi đến nông nỗi này vậy thầy? Ngày mai tôi lên hỏi ông Hiệu trưởng mới được.”

Lúc ấy tôi mới có dịp nói rõ với thầy rằng tôi không hề lôi con thầy. Hai đứa chỉ va chạm với nhau trong lúc chạy giỡn nên nó mới bị té.

Thầy quay sang hỏi lại con mình.

Thằng nhỏ lúc này ú ớ, không trả lời được.

Thầy Đồng hiểu ra rằng mình đã quá hấp tấp, chỉ nghe lời con mà chưa hỏi rõ sự việc đã đánh tôi nặng tay.

Thầy phân bua đôi điều rồi xin lỗi ba tôi.

Hôm ấy, theo ba trở về nhà, trong bụng tôi thấy hả dạ vô cùng.

Không phải vì thầy phải xin lỗi.

Mà có lẽ đối với một đứa trẻ, điều sung sướng nhất lúc ấy là cuối cùng người lớn cũng biết rằng mình không nói dối và mình đã bị đánh oan.

Tôi còn nhớ thầy Hiệu trưởng của trường lúc đó tên là Nguyễn Văn Mà.

CÔ GIÁO HOA

Qua mùa hè của năm đầu tiên đi học, tôi lên lớp Tư và được học với cô giáo Hoa.

Cô còn trẻ, tính tình nhỏ nhẹ và rất dịu dàng với học trò. Suốt cả năm học, tôi chưa bao giờ thấy cô lớn tiếng hay đánh một học trò nào.

Cô rất thương tôi.

Đôi lúc gặp cô ở đâu đó ngoài giờ học, tôi khoanh tay, cúi đầu lễ phép:

“Dạ, thưa cô.”

Mỗi lần như vậy, cô thường đưa tay nựng đôi má phúng phính của tôi, có khi còn úp bàn tay lên cái đầu hớt cua gần như trọc tóc của tôi mà xoa xoa.

Lúc ấy tôi sung sướng lắm.

Có một lần, cô từ phía sau bước đến rồi bất ngờ lấy hai tay bịt mắt tôi. Tôi không biết là ai, chỉ nghe thoang thoảng mùi nước hoa thơm nhẹ và cảm nhận đôi bàn tay cô ấm áp trên mặt mình.

Một lát sau, cô buông tay ra rồi hỏi:

“Trò làm gì ở đây?”

Tôi quay lại, thấy cô thì lúng túng chẳng biết trả lời thế nào.

Cô mỉm cười rồi bỏ đi.

Chỉ là một chuyện rất nhỏ của tuổi học trò, vậy mà cảm giác gần gũi ấy tôi nhớ rất lâu.

Sau này cô thuyên chuyển đi nơi khác. Tôi không còn dịp gặp lại cô nữa.

Nhưng trong ký ức của tôi về những năm đầu cắp sách đến trường, cô Hoa vẫn là hình ảnh của một người cô hiền lành, dịu dàng và thương học trò.

LẦN ĐẦU TIÊN TÔI LÊN SÂN KHẤU

Đến năm lớp Nhất, tôi học với thầy Giã.

Khác với cô Hoa, thầy Giã rất nghiêm khắc, nhưng bên trong sự nghiêm khắc ấy, thầy cũng rất ân cần với học trò.

Cuối năm học, thầy chọn tôi để tập một bài hát trình diễn trên sân khấu của nhà trường.

Thầy dạy tôi bài “Trai Hùng Nam Quốc.”

Không những dạy hát, thầy còn chỉ cho tôi từng điệu bộ khi trình diễn: lúc nào đưa tay, lúc nào làm động tác mài kiếm, lúc nào tuốt gươm...

Tôi tập theo thầy một cách rất nghiêm túc.

Rồi ngày trình diễn cũng đến.

Một đứa trẻ quê mùa từ Cồn Cù ngày nào, từng rụt rè bước vào lớp Năm, bây giờ lại đứng trên sân khấu trước thầy cô, bạn bè và mọi người.

Tôi vừa hát vừa làm những động tác thầy đã dạy.

Đó là lần đầu tiên trong đời tôi đứng trên một sân khấu.

Nhiều chuyện của những năm tháng ấy đã phai mờ theo thời gian, nhưng buổi trình diễn đầu tiên ấy tôi vẫn còn nhớ.

Có lẽ bởi đối với một đứa trẻ, lần đầu tiên dám đứng trước đông người bao giờ cũng là một kỷ niệm khó quên

 

 

.

TRẬN BÃO NĂM NHÂM THÌN

 

TRẬN BÃO NĂM NHÂM THÌN

Năm Nhâm Thìn 1952, một trận bão lớn đi qua vùng quê tôi.

Mưa gió dữ dội. Căn nhà cột tre, vách lá của gia đình tôi bị những cơn gió mạnh quật tới quật lui, đu đưa như muốn bật khỏi mặt đất.

Ba chạy quanh tìm cây để chống nhà.

Mưa trút xuống làm người ba ướt sũng. Ba cố dùng những thanh tre chống vào hai cây cột cái, mong giữ cho căn nhà khỏi xiêu đổ.

Nhưng sức người không chống nổi sức gió.

Căn nhà bắt đầu nghiêng.

Ba la cả nhà chạy ra ngoài.

Giữa trời mưa gió, má lấy một manh chiếu phủ lên đầu mấy anh em chúng tôi để tạm che mưa.

Tôi đứng nép bên má, nhìn căn nhà của mình từ từ sụp xuống.

Đối với một đứa trẻ, căn nhà dù chỉ là cột tre, vách lá cũng là cả một thế giới. Vậy mà chỉ sau một trận cuồng phong, cái thế giới nhỏ bé ấy gần như nằm rạp xuống trước mắt mình.

Qua cơn giông, mưa vẫn còn rả rích.

Ba nhìn quanh căn nhà bị sập, thấy bên trong vẫn còn một khoảng trống nên cả gia đình tạm chui vào đó trú qua cơn mưa lạnh.

Gần hai ngày sau, nhờ bà con hàng xóm đến giúp, căn nhà mới được kéo lên tạm ngay ngắn trở lại.

Ba lại đi tìm mua thêm tre, đem về chống chỏi cho căn nhà vững hơn.

Năm ấy, gia đình tôi cơ cực lắm.

Có những lúc trong nhà không còn củi để nấu cơm. Ba gọi tôi:

“Đi với ba kiếm củi.”

Hai cha con băng qua những cánh đồng, tìm những gốc cây khô, những nhánh cây gãy nằm vùi sâu trong bùn đất. Ba tẽ ra từng khúc, tôi phụ lượm rồi mang về nhà phơi khô làm củi.

Có những bữa cơm chẳng có gì ngoài muối quẹt và đọt rau.

Vậy mà cả nhà vẫn ăn.

Thấy mấy đứa bạn đi câu, chiều chiều xách cá về cho gia đình, tôi cũng kiếm một cây cần rồi ra mé sông câu cá.

Có hôm tôi câu được cá, hí hửng mang về nhà, nghĩ bụng phen này mình cũng giúp được ba má một chút.

Không ngờ má nhìn thấy lại la:

“Không được đi câu cá!”

Tôi ngạc nhiên.

Má nói:

“Câu là móc mép, móc họng cá... tội lắm.”

Rồi má bảo tôi bỏ cây cần câu và cái giỏ đựng cá đi.

Nhà đang nghèo, bữa cơm có khi chỉ có muối quẹt với đọt rau, vậy mà má vẫn không muốn con mình làm đau một con vật để kiếm thêm miếng ăn.

Lúc nhỏ tôi chỉ biết nghe lời má.

Sau này nghĩ lại, tôi mới hiểu: giữa những ngày nghèo khó nhất, má vẫn giữ trong lòng một sự thương xót đối với những sinh vật nhỏ bé quanh mình.

Có lẽ đó cũng là một trong những bài học mà má đã dạy tôi, không bằng sách vở hay những lời giáo huấn dài dòng, mà bằng chính cách má sống.

 

 

TUỔI NHỎ BIẾT ĐỠ ĐẦN BA MÁ

 

TUỔI NHỎ BIẾT ĐỠ ĐẦN BA MÁ

Khi má sinh thêm đứa em thứ Sáu thì khu chợ lại dời ra phía ngoài, gần nơi ba má từng ở trước kia.

Vì nhà không còn sát chợ nên từ lúc trời còn tờ mờ sáng, ba má đã phải chất hàng lên xe đẩy, kéo ra chợ bán. Chiều đến lại phải thu dọn, chở hàng về nhà.

Tôi lúc ấy tuy còn nhỏ nhưng đã là anh lớn trong gia đình.

Mỗi ngày đi học về, tôi phụ má giữ em, quét nhà, có khi lo cả chuyện nấu cơm.

Con nhà nghèo, anh em lại đông, tôi sớm hiểu rằng mình phải biết đỡ đần công việc để má có thêm thời gian cùng ba lo buôn bán.

Cuộc sống cứ thế trôi đi.

Một thời gian sau, bên hông chợ có một dãy nhà gạch mới được xây lên.

Ba nhìn thấy và nghĩ rằng nếu mua được một căn nhà ngay sát chợ thì sẽ thuận tiện biết bao. Hàng hóa có thể bày bán ngay tại nhà, khỏi phải sáng đẩy ra, chiều kéo về như trước.

Lúc ấy việc mua bán của ba má cũng đã khá hơn đôi chút, hàng hóa ngày càng nhiều. Mỗi lần dọn chợ phải kéo xe đi tới đi lui nhiều chuyến.

Ba muốn mua một căn nhà trong dãy mới ấy nhưng tiền dành dụm vẫn chưa đủ.

May lúc đó cậu Bảy, em ruột của má, đang làm Cai Tổng ở dinh quận. Ba bàn với cậu cùng mua chung một căn, rồi chia đôi, mỗi gia đình ở một nửa.

Vậy là gia đình tôi có được nửa căn nhà sát chợ.

Sau này, phía ngoài bờ sông được phép xây thêm nhà dọc theo bờ đối diện bên kia chợ. Cậu Bảy quyết định dời sang đó ở và nhường lại nửa căn nhà của cậu cho gia đình tôi.

Ba má cố gắng dành dụm, trả đủ tiền cho cậu Bảy.

Từ đó, căn nhà được nới rộng hơn và công việc làm ăn cũng thuận tiện hơn trước.

Trong căn nhà ấy, má lần lượt sinh thêm các em tôi.

Trước sau, má sinh chín anh em chúng tôi, gồm sáu trai và ba gái.

Nhưng má còn từng sinh một đứa con trai nữa. Em chỉ sống được hai ngày rồi mất vì bị ngộp.

Má buồn lắm.

Nhiều năm sau, má vẫn thường tự trách mình, cho rằng vì bất cẩn nên không biết em bị nghẹt đàm nhớt để kịp thời cứu chữa.

Nếu đứa em ấy còn sống, anh em chúng tôi đã tròn mười người.

Chín anh em còn lại cứ lần lượt lớn lên trong căn nhà gần chợ ấy.

Cùng với đàn con ngày một đông, cơ nghiệp của ba má cũng từ từ khá lên.

Không phải chỉ trong một sớm một chiều.

Từ những ngày tản cư, hồi cư, ba bị bắt và tra khảo, rồi căn nhà tre nghèo khó, lần bị trộm lấy gần sạch gia tài... ba má cứ ngã xuống rồi lại đứng lên.

Ba má sống rất cần kiệm và mực thước.

Nhờ sự cần cù, siêng năng và khéo léo trong việc mua bán, từ một người bán lẻ với chút hàng hóa ít ỏi, ba dần dần gây dựng được việc làm ăn vững vàng hơn.

Rồi một ngày, từ người bán lẻ ở chợ quận, ba bắt đầu trở thành một người buôn sỉ.