Monday, August 31, 2026

SỰ RA ĐI CỦA NGƯỜ VỢ THƯƠNG YÊU

 

SỰ RA ĐI CỦA NGƯỜI VỢ THƯƠNG YÊU

 

Đời người có những mất mát, khi chưa trải qua, mình tưởng rồi thời gian sẽ làm cho nguôi ngoai. Nhưng đến khi chính mình đi qua mới hiểu: có những nỗi đau thời gian chỉ làm cho ta quen sống cùng nó, chứ không bao giờ thật sự xóa được.

Vợ chồng tôi cưới nhau năm 1973.

Ngày ấy chúng tôi cũng như bao đôi vợ chồng trẻ khác, bước vào cuộc sống chung với biết bao hy vọng. Chẳng ai biết ngày mai sẽ ra sao, chỉ nghĩ đơn giản rằng đã thành vợ thành chồng thì từ nay cùng nhau gây dựng một mái gia đình, sinh con, nuôi con và nắm tay nhau đi hết cuộc đời.

Nhưng cuộc sống vợ chồng yên ổn chưa được bao lâu thì biến cố năm 1975 xảy đến.

Vì tôi là sĩ quan của chế độ cũ nên phải đi cải tạo.

Từ đó, gánh nặng gia đình gần như đặt cả lên vai vợ tôi.

Tôi ra đi, để lại bà với ba đứa con còn nhỏ.

Bây giờ ngồi nhớ lại những năm tháng ấy, điều khiến tôi thương bà nhất không phải chỉ vì bà là vợ tôi, mà bởi tôi hiểu trong những ngày tôi vắng nhà, bà đã phải thay tôi gánh lấy tất cả.

Một người đàn bà với ba đứa con thơ.

Cơm áo.

Bệnh đau.

Những bữa đói no.

Những lúc con khóc.

Những đêm con bệnh.

Những khi trong nhà thiếu trước hụt sau.

Bao nhiêu chuyện lớn nhỏ của một gia đình đáng lẽ phải có hai vợ chồng cùng lo, bà phải một mình đứng ra cáng đáng.

Tôi không có mặt ở đó để chia sẻ với bà.

Có lẽ có những đêm sau khi ba đứa nhỏ đã ngủ, bà mới có một chút thời gian ngồi lại với chính mình. Bà có buồn không? Có tủi thân không? Có lo cho chồng, lo cho tương lai của các con không?

Tôi nghĩ chắc là có.

Nhưng sáng hôm sau bà vẫn phải đứng dậy.

Vẫn phải lo cho ba đứa nhỏ có cái ăn.

Vẫn phải sống.

Vẫn phải chờ.

Người ta thường nói đến tình nghĩa vợ chồng trong những ngày sung túc. Nhưng với tôi, nghĩa vợ chồng thật sự được nhìn thấy rõ nhất chính trong những năm tháng gian nan ấy.

Khi người chồng không còn ở nhà, người vợ vẫn thay chồng giữ lấy gia đình.

Khi tương lai chưa biết sẽ đi về đâu, bà vẫn giữ ba đứa con bên mình, nuôi chúng lớn lên và chờ ngày gia đình lại được đoàn tụ.

Có những hy sinh trong đời không cần nói thành lời.

Ngày ấy có lẽ bà cũng chẳng nghĩ mình đang hy sinh.

Bà chỉ nghĩ một điều rất đơn giản:

Đó là chồng mình.

Đó là con mình.

Đó là gia đình mình.

Thì mình phải lo.

Nhưng chính những điều tưởng như đơn giản ấy, càng về già tôi càng thấy lớn lao.

Rồi những năm tháng khó khăn cũng lần lượt đi qua.

Đến năm 1989, gia đình chúng tôi được sang Mỹ theo diện chính trị.

Bước chân xuống một đất nước xa lạ, chúng tôi gần như phải bắt đầu lại cuộc đời từ đầu.

Lại một lần nữa, hai vợ chồng chỉ có hai bàn tay trắng.

Tuổi đã không còn trẻ như ngày mới cưới. Sau lưng là biết bao biến cố. Trước mặt lại là một đất nước mới, ngôn ngữ mới, cách sống mới và biết bao điều phải học lại từ đầu.

Nhưng ít nhất lần này chúng tôi có nhau.

Và các con ở bên cạnh.

Chừng ấy đã là một niềm an ủi rất lớn.

Chúng tôi bắt đầu lại.

Không ngại việc.

Không ngại khó.

Ai từng đến một đất nước xa lạ với hai bàn tay trắng mới hiểu hai chữ “làm lại” nặng đến chừng nào.

Làm lại không phải chỉ là tìm một công việc.

Mà gần như phải học lại cả cách sống.

Phải tìm cách đứng vững.

Phải lo chỗ ở.

Phải lo cho con cái.

Phải dành dụm từng đồng để ngày mai khá hơn hôm nay một chút.

Có những thứ đối với người khác rất bình thường nhưng đối với một gia đình mới đặt chân đến Mỹ lúc ấy lại là cả một cố gắng.

Hai vợ chồng cứ thế mà làm.

Mệt thì nghỉ một chút rồi lại đi tiếp.

Khó khăn thì cùng nhau tính.

Thiếu thốn thì cùng nhau chịu.

Chúng tôi không có con đường nào khác ngoài việc cố gắng.

Và rồi năm tháng không phụ lòng người.

Từng chút một, cuộc sống bắt đầu ổn định.

Các con lớn lên.

Gia đình dần có được những thứ mà ngày mới sang Mỹ chúng tôi chưa dám nghĩ tới.

Rồi chúng tôi có căn nhà của mình.

Trong căn nhà ấy có biết bao nhiêu công sức của hai vợ chồng.

Mỗi món đồ mua về, mỗi góc nhà được sửa sang, mỗi thứ chúng tôi có được đều là kết quả của những năm tháng cùng nhau chịu cực.

Có lúc tôi nhìn lại và nghĩ:

Vậy là cuối cùng vợ chồng mình cũng qua được hết rồi.

Từ ngày cưới nhau năm 1973, rồi biến cố 1975, những năm tôi đi cải tạo để bà một mình nuôi ba con nhỏ, rồi đến năm 1989 sang Mỹ làm lại cuộc đời từ hai bàn tay trắng...

Bao nhiêu sóng gió cũng đã đi qua.

Con cái đã trưởng thành.

Nhà cửa đã có.

Cuộc sống đã ổn định.

Tuổi hai vợ chồng cũng đã về chiều.

Tôi nghĩ từ nay chẳng cần gì hơn nữa.

Thôi thì những năm còn lại, hai vợ chồng cứ bình yên mà sống bên nhau.

Không cần giàu thêm.

Không cần nhà lớn hơn.

Không cần chạy theo điều gì nữa.

Một buổi sáng có hai vợ chồng uống cà phê.

Một bữa cơm chiều có người ngồi đối diện.

Một đêm đóng cửa căn nhà lại, biết người đã cùng mình trải qua bao nhiêu hoạn nạn vẫn còn nằm bên cạnh.

Vậy là đủ.

Tôi cứ tưởng sau bao nhiêu thử thách, cuộc đời cuối cùng cũng cho vợ chồng tôi một đoạn đường bình yên.

Nhưng không ngờ, chính khi mọi thứ vừa yên ổn thì bà ngã bệnh.

Ban đầu tôi vẫn hy vọng.

Tôi nghĩ chúng tôi đã vượt qua biết bao nhiêu chuyện rồi thì lần này cũng sẽ vượt qua.

Ngày trước nghèo khó còn vượt qua được.

Cảnh chia lìa còn vượt qua được.

Hai bàn tay trắng nơi đất khách còn làm lại được cuộc đời.

Thì một cơn bệnh, tôi cũng mong vợ chồng mình sẽ cùng nhau vượt qua.

Nhưng lần này chúng tôi không thắng được.

Bệnh tình của bà ngày một nặng.

Và rồi bà ra đi.

Người đàn bà đã cùng tôi đi từ năm 1973, đã một mình nuôi ba đứa con nhỏ trong những năm tôi vắng nhà, đã cùng tôi sang Mỹ năm 1989 và bắt đầu lại tất cả từ con số không...

Bà ra đi đúng vào lúc chúng tôi đã có thể ngồi xuống mà hưởng những ngày bình yên.

Đó là điều khiến tôi đau nhất.

Nếu cuộc đời còn nghèo, tôi có thể tiếp tục làm.

Nếu mất tiền, tôi có thể kiếm lại.

Nếu mất một căn nhà, tôi có thể cố gắng dựng lại một căn nhà khác.

Nhưng mất một người đã cùng mình đi qua gần cả cuộc đời thì biết lấy gì tìm lại?

Ngày bà mất, tôi không chỉ mất một người vợ.

Tôi mất một người đã biết gần như toàn bộ cuộc đời mình.

Bởi bà đã có mặt trong chính những năm tháng ấy.

Một người như thế ra đi, khoảng trống để lại làm sao có thể nhỏ được?

Sau ngày đưa bà đi, tôi trở về căn nhà hai vợ chồng đã nhọc nhằn tạo dựng.

Mọi thứ vẫn còn nguyên.

Cái bàn vẫn đó.

Chiếc ghế vẫn đó.

Nhà bếp vẫn còn những vật dụng quen thuộc.

Phòng ngủ vẫn vậy.

Những món đồ hai vợ chồng dành dụm mua sắm qua bao nhiêu năm vẫn nằm đúng chỗ.

Căn nhà mà ngày mới sang Mỹ, hai bàn tay trắng, chúng tôi từng mơ ước có một ngày sẽ tạo dựng được, bây giờ đã có rồi.

Nhưng người cùng tôi tạo dựng nó lại không còn.

Tôi đứng giữa căn nhà ấy mà chợt thấy một điều rất đau lòng:

Chúng tôi đã có được mọi thứ, nhưng tôi lại mất bà.

Nếu được chọn lại, có lẽ tôi sẵn lòng trả lại rất nhiều thứ để đổi lấy một buổi chiều bình thường như ngày trước.

Bà còn trong bếp.

Tôi còn nghe tiếng bà đi lại.

Hai vợ chồng còn có thể ngồi ăn với nhau một bữa cơm.

Chỉ vậy thôi.

Nhưng trên đời có những thứ khi đã mất rồi, dù có bao nhiêu tiền cũng không mua lại được.

Những năm sau đó, tôi sống một mình trong căn nhà chứa đầy kỷ niệm.

Ngày trước hai người cùng sống, tôi thấy căn nhà vừa đủ.

Bà mất rồi, tôi mới thấy nó rộng.

Rộng bởi tiếng nói của một người đã không còn.

Rộng bởi chiếc ghế bên kia không có ai ngồi.

Rộng bởi mỗi tối chỉ có một người tắt đèn.

Có những buổi chiều tôi ngồi rất lâu, nhìn quanh căn nhà và nhớ lại từng đoạn đời.

Năm 1973, chúng tôi thành vợ thành chồng.

Năm 1975, gia đình chia lìa.

Những năm tháng bà một mình ôm ba đứa con nhỏ mà sống.

Năm 1989, cả nhà sang Mỹ.

Rồi hai vợ chồng lại cặm cụi làm ăn.

Từ không có gì cho đến lúc có một mái nhà.

Từ những ngày khó khăn cho đến lúc con cái trưởng thành.

Cả một đời người nằm trong căn nhà ấy.

Vậy mà cuối cùng chỉ còn mình tôi ngồi nhớ.

Suốt mấy năm, nỗi buồn cứ âm thầm theo tôi.

Tôi tìm đến văn chương, thơ phú như một cách để lòng mình có chỗ nương tựa.

Tôi viết về quê hương.

Viết về mẹ.

Viết về tuổi thơ.

Viết về những người đã đi qua đời mình.


 

 

 

NHỮNG NĂM THÁNG SAU CÙNG CỦA ĐỜI MƯU SINH

 

NHỮNG NĂM THÁNG SAU CÙNG CỦA ĐỜI MƯU SINH

Cuộc sống rồi cũng không phụ người chịu khó.

Sau gần một năm, đứa con trai lớn của tôi tạm tìm được việc làm tại một trường tiểu học. Công việc ấy không đúng với ngành nó đã học, nhưng trong lúc kinh tế còn khó khăn, có việc làm đã là điều đáng mừng.

Sau gần hai năm làm công việc bất đắc dĩ ấy, cuối cùng nó cũng tìm được một việc đúng với ngành học, với mức lương khởi đầu hơn bốn mươi lăm ngàn đô một năm.

Ngày nghe con báo tin, tôi mừng lắm.

Không hẳn vì số tiền nó sẽ kiếm được, mà vì tôi biết con mình cuối cùng đã tìm lại được con đường mà nó từng bỏ công học hành bao nhiêu năm.

Đứa con gái, sau một thời gian theo bạn sang Houston làm nghề nail, cũng trở về Sacramento và xin được việc tại một chi nhánh ngân hàng gần nhà.

Qua năm tháng, có thêm kinh nghiệm, rồi sau vài lần thay đổi công việc, lương hướng của nó cũng dần khá hơn.

Đứa con trai thứ ba vẫn ở San Jose và chuyển sang nghề hớt tóc.

Mỗi đứa một nghề.

Mỗi đứa một con đường.

Làm cha mẹ, đến lúc ấy tôi không còn mong gì hơn là thấy các con có thể tự đứng trên đôi chân của mình.

Còn tôi, sau bao lần thay đổi công việc, cuối cùng xin được vào làm công việc tạp dịch tại Walmart.

Vợ tôi vẫn tiếp tục với nghề làm móng, dù qua năm tháng cũng thay đổi nhiều tiệm.

Vậy là sau một thời gian dài chạy vạy tìm công ăn việc làm kể từ ngày rời San Jose, gia đình chúng tôi lại tạm ổn định.

Không giàu có.

Không dư dả gì nhiều.

Nhưng mỗi người đều có việc.

Mỗi sáng thức dậy biết mình phải đi đâu, làm gì.

Chiều tối lại trở về căn nhà của mình.

Đối với một gia đình từng bao lần bắt đầu lại từ hai bàn tay trắng, như thế đã là điều đáng quý.

Rồi năm tháng cứ lặng lẽ trôi.

Các con tôi lần lượt lập gia đình.

Từng đứa rời khỏi mái nhà cha mẹ để xây dựng một mái ấm riêng.

Căn nhà ngày trước lúc nào cũng đầy tiếng con cái, dần dần vắng đi.

Nhưng rồi những khoảng trống ấy lại được lấp đầy bằng tiếng cười của những đứa cháu nội, cháu ngoại lần lượt chào đời.

Mỗi lần có thêm một đứa cháu, vợ chồng tôi lại vui.

Tôi nhìn những đứa trẻ sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ, đôi khi chợt nghĩ đến một hành trình thật dài của gia đình mình.

Từ quê nhà Việt Nam...

qua những năm tháng lưu lạc...

rồi đến những ngày đầu bỡ ngỡ trên đất Mỹ...

và bây giờ là một thế hệ mới đang lớn lên bình yên nơi đây.

Đứa con út cũng vào đại học.

Đến lúc ấy, tôi mới chợt nhận ra:

Mình già rồi.

Mái tóc hai vợ chồng ngày một bạc thêm.

Các con đã lớn.

Các cháu đã ra đời.

Vậy mà tôi vẫn còn lẽo đẽo theo chuyện cơm áo.

Người xưa nói:

“Thất thập cổ lai hy.”

Qua tuổi bảy mươi mà ngày ngày tôi vẫn còn cặm cụi đi làm.

Có lúc hai vợ chồng ngồi với nhau, bà nói:

— Thôi, nghỉ “đi cày” đi ông. Còn được bao nhiêu năm nữa đâu. Dành chút thời gian đi đây đi đó. Cứ chần chừ hoài, đến lúc xụm bà chè rồi thì còn đi đâu được nữa!

Tôi nghe thì cười.

— Ừ, rồi nghỉ.

Nhưng cái chữ “rồi” ấy cứ kéo dài hết năm này sang năm khác.

Có lẽ người đã quen lao động cả đời thì chuyện dừng lại cũng không dễ.

Đi làm cực thì than mệt.

Nhưng nghỉ ở nhà lại thấy nhớ công việc.

Cứ thế, tôi chần chừ mãi.

Đến khi thật sự dừng lại, tôi đã ngoài bảy mươi hai tuổi.

Ngày không còn phải thức dậy để đi làm nữa, tôi bỗng thấy thời gian dài ra.

Buổi sáng không còn vội.

Không còn nhìn đồng hồ.

Không còn nghĩ hôm nay mình phải vào ca lúc mấy giờ.

Ngày tháng như bỗng dư ra một khoảng rất lớn.

Ban đầu tôi nghĩ:

“Thôi, bây giờ mình đi chơi.”

Tôi dự tính sẽ cùng vợ thực hiện vài chuyến đi xa. Cả đời đã lo cho con cái, lo nhà cửa, lo công ăn việc làm, bây giờ phải dành chút thời gian cho mình.

Nhưng những chuyến đi dự tính ấy chưa thực hiện được ngay.

Tôi ở nhà nhiều hơn.

Sáng ra chăm sóc mấy cây trong khu vườn sau nhà.

Tỉa một cành cây.

Tưới một luống hoa.

Nhặt vài chiếc lá rụng.

Những công việc nhỏ bé ấy bỗng trở thành thú vui của tuổi già.

Và rồi tôi lại ngồi vào bàn.

Trước mặt không còn là những bài học ESL năm nào.

Không còn những sách vở kỹ thuật.

Không còn những bảng mạch điện tử hay những chiếc máy trong hãng.

Trước mặt tôi bây giờ là trang giấy.

Và những ký ức.

Tôi bắt đầu ngồi lâu hơn bên bàn viết.

Những chuyện cũ cứ lần lượt trở về.

Quê nhà.

Cha mẹ.

Những năm tháng tuổi thơ.

Những người đã đi qua đời mình.

Những vui buồn của một kiếp người.

Tôi viết cho xong những truyện ngắn còn dang dở.

Viết lại những đoạn hồi ký.

Làm thêm vài tập thơ.

Và rồi tôi lại muốn viết về miệt giồng Trà Vinh, nơi mình đã sinh ra và lớn lên.

Càng già, con người ta dường như càng nhớ về nơi mình bắt đầu.

Đi càng xa lại càng nhớ con đường cũ.

Sống càng lâu nơi đất khách lại càng nhớ mùi đất quê nhà.

Tôi muốn ghi lại những gì mình còn nhớ về vùng đất ấy, về con người, phong tục, nếp sống và những điều bình dị mà thời gian đang dần mang đi.

Không phải để làm một điều gì lớn lao.

Tôi chỉ nghĩ rằng mình đã sống một đời khá dài.

Đã nhìn thấy nhiều đổi thay.

Nếu những điều còn nằm trong trí nhớ không được viết xuống, rồi một ngày tôi ra đi, chúng cũng sẽ theo tôi mà mất.

Vì vậy, tôi viết.

Viết cho mình.

Viết cho người thân.

Viết cho con cháu.

Và viết cho một quê hương mà dù đã xa mấy chục năm, tôi vẫn chưa bao giờ thật sự rời khỏi.

Bây giờ ngồi nhìn lại, tôi thấy đời mình đã đi qua biết bao khúc quanh.

Ngày mới đặt chân đến Mỹ, tôi từng đứng dưới trời đông chờ xe buýt, bụng đói cồn cào, nhìn người ta dìu nhau bước vào nhà hàng sáng đèn mà nước mắt chảy xuống.

Tôi từng cầm cây cào đi làm cỏ.

Từng chui vào phòng đông lạnh trong chợ.

Từng khiêng những cuộn cỏ nặng trĩu.

Từng học từng chữ tiếng Anh vào ban đêm.

Từng đứng trên dây chuyền sản xuất.

Từng đi từ hãng này sang hãng khác.

Từng mua chiếc xe cũ bảy trăm đô bằng tiền trả dần.

Rồi Mobile Home.

Rồi căn nhà đầu tiên.

Rồi nhìn các con lần lượt bước vào đại học, ra trường, đi làm, lập gia đình.

Có lúc tưởng đã yên thì lại mất việc.

Có lúc tưởng đã đứng vững thì lại phải dọn nhà và bắt đầu lại.

Nhưng rồi mọi chuyện cũng qua.

Tôi không nghĩ cuộc đời mình là một câu chuyện đặc biệt.

Có lẽ hàng trăm ngàn gia đình người Việt đến Mỹ trong những năm tháng ấy cũng đã từng trải qua những câu chuyện tương tự.

Mỗi người một hoàn cảnh.

Mỗi người một nỗi buồn.

Mỗi người một cách bắt đầu.

Nhưng có một điều giống nhau:

Đã chọn sống thì phải bước tới.

Tôi đã bước như thế suốt một đời.

Có lúc nhanh.

Có lúc chậm.

Có lúc mệt quá muốn ngồi xuống.

Nhưng rồi lại đứng lên mà đi.

Bây giờ, khi những ngày bươn chải đã ở phía sau, tôi không còn mong cầu gì nhiều.

Các con đã trưởng thành.

Mỗi đứa đã có gia đình và cuộc sống riêng.

Những đứa cháu nội, cháu ngoại lần lượt lớn lên.

Tôi có một mái nhà để trở về.

Có khu vườn nhỏ để chăm sóc.

Và có một chiếc bàn để mỗi ngày ngồi xuống viết lại những gì mình còn nhớ.

Thế là đủ.

Có những buổi chiều, tôi ngồi một mình trước trang giấy.

Ngoài cửa sổ, nắng California nhạt dần.

Tôi chợt nghĩ đến ba má.

Nghĩ đến quê nhà Trà Vinh.

Nghĩ đến những người đã từng có mặt trong cuộc đời mình nhưng nay không còn nữa.

Rồi tôi nhìn lại những trang giấy đang viết dở trước mặt.

Tôi hiểu rằng mình đang đi về đoạn cuối của một hành trình.

Ngày nào đó, tôi cũng sẽ trở về với cát bụi như tất cả mọi người.

Nhưng trước ngày ấy, tôi còn muốn viết thêm một chút.

Ghi lại thêm một chút.

Bởi đời người rồi sẽ qua.

Nhà cửa rồi cũng sang tay.

Tiền bạc rồi cũng để lại.

Chỉ mong những dòng chữ này còn ở lại đâu đó, để một ngày nào đó con cháu mở ra đọc và biết rằng:

Cha ông chúng đã từng có một quê hương.
Đã từng đi qua những năm tháng gian nan.
Đã từng bắt đầu lại từ hai bàn tay trắng.
Và đã cố gắng sống trọn một đời để dựng nên mái ấm cho những thế hệ đi sau.

Nếu làm được như vậy, tôi nghĩ mình đã mãn nguyện.

Phần còn lại của cuộc đời, tôi xin dành cho những trang viết, cho những kỷ niệm và cho quê hương vẫn còn nguyên vẹn trong lòng mình.

Rồi một ngày nào đó...

khi phải trở về với cát bụi,

tôi cũng có thể thanh thản mà đi.

DỌN NHÀ VÀ CÔNG VIỆC MỚI

 

DỌN NHÀ VÀ CÔNG VIỆC MỚI

Ngày rời San Jose, tôi có nhiều cảm xúc.

Nơi này đã chứng kiến một đoạn đời quan trọng của gia đình tôi.

Từ những ngày đầu tiên chân ướt chân ráo đến Mỹ, không biết tiếng Anh, không biết ngày mai sẽ làm gì…

Tôi đã đi cắt cỏ.

Làm trong chợ Á Đông.

Làm vườn.

Làm khô bò.

Rồi lần lượt bước vào những hãng điện tử.

Cũng tại vùng đất này, vợ chồng tôi đã cặm cụi nuôi các con ăn học.

Tại đây, chúng tôi mua được căn Mobile Home đầu tiên.

Rồi căn nhà bốn phòng ngủ.

Các con lần lượt vào đại học, ra trường.

Thằng út cũng sinh ra trên đất Mỹ.

Bao nhiêu vui buồn của những năm tháng đầu đời tha hương đều nằm lại nơi này.

Bây giờ phải rời đi.

Tôi biết mình không rời San Jose vì thất bại.

Chỉ là cuộc sống buộc mình phải tìm một con đường khác.

Đến Sacramento, chúng tôi dùng phần lớn số tiền có được để mua nhà, chỉ giữ lại một khoản làm chi phí sinh hoạt.

Mỗi tháng còn phải trả khoảng sáu trăm đô cho ngân hàng, cộng thêm điện nước, ăn uống và các khoản chi tiêu khác.

Tôi ngồi tính đi tính lại.

Nếu chưa tìm được việc ngay, số tiền còn lại có thể giúp gia đình cầm cự khoảng một năm.

Trong một năm ấy, cả nhà phải tìm được đường sống mới.

Đứa con trai thứ hai đã có gia đình nên vẫn ở lại San Jose. Lúc này nó chuyển sang nghề hớt tóc.

Nó nói với vợ chồng tôi:

— Nghề hớt tóc coi vậy mà kiếm tiền còn khá hơn hồi đi làm hãng.

Tôi nghe con nói, vừa vui vừa nghĩ:

Ở Mỹ, có lẽ điều quan trọng không phải mình làm nghề gì.

Miễn là một nghề lương thiện, có thể tự nuôi sống mình và gia đình, thì nghề nào cũng đáng quý.

Sau khoảng hai tháng, nhà cửa ở Sacramento tạm ổn định.

Trong gia đình, vợ tôi bao giờ cũng là người nhanh nhẹn và xông xáo hơn tôi.

Chỉ vài tuần sau, bà đã xin được việc tại một tiệm làm móng.

Còn tôi thì khó khăn hơn.

Mấy tháng sau, tôi mới tìm được việc phụ bếp tại một nhà hàng Việt Nam.

Tôi vốn đã có vài kinh nghiệm không mấy vui khi làm thuê cho người Việt trong những ngày đầu mới sang Mỹ, nên cũng hơi ngại.

Nhưng lúc ấy đang cần việc.

Tôi nghĩ:

“Thôi thì làm tạm. Có việc vẫn hơn ngồi nhà. Trong lúc làm mình tiếp tục tìm chỗ khác.”

Tôi vào làm.

Và quả thật, chỉ hơn một tháng tôi đã thấy mình không thể tiếp tục.

Mỗi ngày làm gần mười một tiếng, công việc tất bật, nhưng tiền công chưa đến bốn đô một giờ.

Tôi nghĩ:

— Không được. Mình phải tìm việc khác.

Tôi nghỉ.

Vài tuần sau, người agent từng giúp lo giấy tờ mua nhà giới thiệu tôi với một manager người Việt tại một công ty nhỏ chuyên làm nền gạch và nhà bếp cho những căn nhà mới xây.

Lúc ấy Sacramento đang phát triển mạnh về xây dựng nhà ở.

Tôi lại thử.

Nhóm thợ phần lớn là người Việt. Tôi làm phụ, ai cần gì thì giúp việc đó.

Công việc chính của tôi là khuân gạch và vật liệu cho thợ.

Những căn nhà hai tầng khiến công việc càng nặng.

Từng thùng gạch phải khiêng lên cầu thang.

Lên.

Xuống.

Rồi lại lên.

Ngày này sang ngày khác.

Tôi đã không còn trẻ.

Ráng được khoảng hai tháng, tôi thấy cơ thể không chịu nổi nữa.

Tôi tự nhủ:

“Không thể vì kiếm vài đồng mà đánh đổi sức khỏe.”

Thế là tôi lại nghỉ.

Một lần nữa, tôi lên xe chạy khắp nơi tìm những bảng thông báo tuyển người.

Trước khi chuyển lên Sacramento, tôi đã nghe nhiều người quen kể về nghề giao báo.

Một anh bạn nói:

— Tao với vợ tao có một round gần hai trăm tờ. Hai đứa đi từ ba, bốn giờ sáng đến sáu giờ là xong. Mỗi tháng cũng được hơn hai ngàn, chưa kể tiền tip.

Nghe cũng hấp dẫn.

Hơn nữa, trước khi dọn nhà, tôi đã mua sẵn một chiếc xe truck, nghĩ rằng nếu cần thì có thể dùng để đi giao báo.

Tôi tự nhủ:

“Thử coi. Biết đâu nghề này hợp với mình.”

Qua lời giới thiệu của người bạn, tôi đến gặp manager phụ trách giao báo.

Ông có dáng người Á Đông nhưng nói hoàn toàn bằng tiếng Anh.

Sau khi hỏi tôi vài câu, ông giao cho tôi một round, tức một khu vực giao báo, kèm theo bản đồ.

Ông hỏi:

— Ông từng làm nghề này chưa?

Tôi nói:

— Chưa.

Ông nhìn tôi một lúc rồi bảo:

— Round này hơi khó đối với người mới. Nhưng làm một thời gian rồi sẽ quen.

Tôi cười:

— OK! Tôi sẽ cố gắng.

Ba giờ sáng hôm sau, tôi có mặt tại điểm nhận báo.

Một thanh niên Việt Nam còn khá trẻ đang chờ tôi.

Chú nói:

— Round này của cháu. Bây giờ cháu tìm được việc khác rồi nên nghỉ. Cháu sẽ train cho chú vài hôm, sau đó chú tự làm.

Tôi nhớ ngay lời người bạn từng cảnh báo:

— Mấy cái round người ta bỏ thường không ngon đâu. Hoặc nhiều chung cư, hoặc nhà cửa nằm rải rác, chạy cực lắm.

Nhưng đã tới rồi thì cứ thử.

Hai chú cháu ngồi xếp báo, cuộn lại và buộc thành từng bó.

Khoảng nửa giờ sau, chúng tôi chất báo lên xe rồi bắt đầu đi.

Xe chạy chừng mười phút thì quẹo vào một khu chung cư.

Trời còn tối mịt.

Người thanh niên chạy xe vào một góc khuất rồi kéo ra một chiếc xe đẩy hàng giống loại thường thấy ở siêu thị.

Chú nói:

— Cháu giấu nó ở đây để chở báo.

Nói xong, chú chất một đống báo lên xe rồi bắt đầu đẩy đi.

Tôi chạy theo.

Chú đi nhanh như chạy.

Tay chụp tờ báo.

Tay quăng.

Nhà dưới thì quăng xuống.

Nhà trên lầu thì phải đưa lên.

Hết dãy này sang dãy khác.

Tôi chạy theo phía sau muốn hụt hơi.

Trời tối lù mù, tôi chẳng hiểu làm sao chú nhớ nổi.

Tôi hỏi:

— Tối như vầy, làm sao chú biết nhà nào mua báo, nhà nào không?

Chú vừa đi vừa đáp:

— Phải nhớ đó chú ơi!

Tôi nghe mà phát hoảng.

Chú nói thêm:

— Không những nhớ số nhà đâu. Còn phải nhớ nhà nào mới order, nhà nào đã cancel nữa.

Tôi nhìn đống báo.

Rồi nhìn những dãy chung cư chằng chịt trước mặt.

Trong đầu chỉ có một câu:

“Trời đất ơi! Vài trăm tờ báo thế này mà phải giao xong trước bảy giờ sáng, làm sao tôi nhớ nổi?”

Tôi cố chạy theo thêm vài khu.

Mồ hôi bắt đầu chảy xuống mặt.

Mắt tôi đã lớn tuổi, phải đeo kính. Mồ hôi đọng trên tròng kính làm mọi thứ trước mắt càng mờ hơn.

Trong khi đó, đường trong khu chung cư cứ ngoằn ngoèo.

Phải nhìn số nhà.

Phải nhớ nhà nào nhận báo.

Phải nhớ nhà nào đã ngưng.

Lúc thì chạy dưới đất.

Lúc phải lên cầu thang.

Mỗi cuộn báo đâu có nhẹ, nhất là báo cuối tuần còn kèm theo một đống quảng cáo.

Tôi bắt đầu thở không ra hơi.

Cuối cùng, tôi nói:

— Thôi chú ơi. Tôi thấy tôi làm nghề này không nổi rồi. Cho tôi về ngang đây đi.

Chú thanh niên cười:

— Mới đầu ai cũng vậy. Vài ngày là quen thôi chú!

Tôi lắc đầu:

— Không. Tôi biết sức mình. Tôi không làm được.

Lần này tôi quyết thật.

Tôi quay lưng đi bộ về chỗ đậu xe.

Nhưng giữa đêm tối, trong một khu chung cư xa lạ, tìm được đường về chiếc xe của mình cũng chẳng dễ.

Tôi đi vòng tới vòng lui hơn hai mươi phút mới thấy xe.

Ngồi vào ghế, đóng cửa lại, tôi thở phào.

Rồi tự nói một mình:

“Đúng là đâu có nghề nào dễ ăn!”

Tôi bật máy xe, lái về nhà.

Trời vẫn còn tối.

Một nghề mới của tôi trên đất Mỹ bắt đầu lúc ba giờ sáng...

và kết thúc chỉ vài giờ sau đó.