Thursday, September 15, 2016

LỜI MỞ ĐÂU







Lời Mở Đầu

                Trước đây tôi có in một tập truyện ngắn lấy tên là “Kẻ Đào Huyệt” năm 2011.Tập truyện nầy gần giống như một ký sự về đời sống của tôi trải qua một chặng đường từ thời tuổi trẻ cho đến kết thúc chiến tranh năm 1975 và vài năm kế tiếp trước khi đi định cư tại Mỹ.
                  Tập hồi ký nầy là một tập hợp ký ức dài hơn, bao gồm những chặng đường đã viết trong tập truyện “Kẻ Đào Huyệt”, cho nên có một vài đoạn tôi phải dùng lại một vài truyện ở tập truyện nầy.
                Mục đích của tập hồi ký “Dòng Trôi Nỗi Nhớ” là ghi lại trang sữ gia đình mà tôi là một thành phần trong đó, hầu lưu lại cho con cháu, anh em, thân tộc, để biết về nguồn cội của gia đình mình.
                 Tôi muốn phơi trải bóng dáng, tâm tình của tôi qua những dòng chữ trong tập sách… chắc sẽ còn ở lại ở thế gian nầy một khi tôi đã ra đi miên viển.  

                               Huỳnh Tâm Hoài
                           Sacramento năm 2016







Xin kính gởi đến:
Hương hồn ông bà, ba má.
Chia sẻ cùng gia quyến anh em.
Gởi đến vợ, các con và các cháu.


















Chương-1




CHƯƠNG 1

ĐẤT VÀ NGƯỜI – NHỮNG DÒNG NGƯỜI VỀ VỚI MIỆT GIỒNG

Ông nội tôi vốn là người Tiều Châu chính gốc từ bên Trung Hoa sang Việt Nam lập nghiệp khi ông còn ngoài hai mươi tuổi. Ông đã từng lập gia đình ở bên đó nhưng chưa có con. Trong lúc kinh tế khó khăn nơi quê nhà, ông một mình quảy bị, theo đoàn người tìm đường sinh sống. Nhiều người trong vùng theo đường biển, lần lượt tìm về phương Nam.

Sau nhiều lần đi đó đây buôn bán trong vùng Trà Vinh, cuối cùng ông định cư tại làng Long Hiệp, quận Trà Cú. Tại đây, ông lập gia đình với bà nội tôi, cũng là người gốc Hoa nhưng gia đình đã đến sinh sống ở vùng đất này từ nhiều đời trước.

Nhắc đến người Tiều Châu ở miền Tây Nam Bộ, người ta thường nhớ đến câu:

“Bạc Liêu đất ruộng phì nhiêu,
Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều Châu.”

Câu ca dao ấy phần nào cho thấy dấu ấn của cộng đồng người Tiều Châu trong đời sống vùng đất phương Nam. Người Hoa đến Nam Bộ qua nhiều đợt và bằng nhiều con đường khác nhau. Một bộ phận đến từ các vùng ven biển phía Nam Trung Hoa, theo đường biển vào các cửa sông, vùng ven biển và những nơi có điều kiện buôn bán thuận lợi. Một bộ phận khác đến trong những biến động chính trị ở Trung Hoa vào cuối thế kỷ XVII, thường được lịch sử gọi là người Minh Hương.

Trong quá trình khai phá phương Nam, người Hoa, người Việt và người Khmer đã cùng hiện diện, giao lưu và tạo nên những cộng đồng cư dân có tính chất rất đặc biệt. Người Hoa thường tập trung ở những nơi có chợ búa, bến sông, bến ghe, thuận tiện cho việc trao đổi hàng hóa. Họ làm nghề buôn bán, mở tiệm thuốc Bắc, tiệm tạp hóa, quán ăn; rồi dần dần phát triển thêm những cơ sở sản xuất nhỏ như làm tương, chao, đậu hũ, các nhà máy xay lúa, chành lúa...

Những cộng đồng người Hoa cũng hình thành các bang, hội theo từng nhóm phương ngữ và nguồn gốc như Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ... Những sinh hoạt ấy không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn góp phần tạo nên diện mạo văn hóa đa dạng của các đô thị, thị tứ và chợ quê miền Nam.

Người Việt đến Nam Bộ cũng trải qua nhiều đợt di dân. Có người từ miền Trung, miền Bắc vào Nam tìm đất sống; có người theo những đoàn khai phá của các chúa Nguyễn; có người vì hoàn cảnh gia đình, chiến tranh, thiên tai hoặc vì muốn tìm một vùng đất mới mà ra đi.

Quá trình ấy diễn ra trong một thời gian rất dài, không phải chỉ trong một thời điểm duy nhất.

Từ thế kỷ XVII trở đi, các chúa Nguyễn từng bước mở rộng vùng kiểm soát về phía Nam, đồng thời tổ chức việc khai phá và lập các đơn vị hành chính mới. Những lưu dân người Việt, người Hoa và các nhóm cư dân khác cùng tham gia vào quá trình hình thành những vùng cư trú mới.

Đến cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, những biến động lớn của lịch sử tiếp tục làm cho dòng người di chuyển về phương Nam thêm đông đúc. Sau khi Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn và lên ngôi Gia Long năm 1802, vùng đất Nam Bộ tiếp tục được tổ chức và phát triển trong một hệ thống hành chính thống nhất.

Nhưng nếu chỉ nhìn lịch sử Nam Bộ bằng những mốc triều đại thì vẫn chưa đủ. Đằng sau những tên gọi của vua chúa, những cuộc chiến tranh và những thay đổi về địa giới là hàng vạn con người bình thường: người đi khai hoang, người làm ruộng, người đánh cá, người buôn bán, người làm muối, người dựng nhà, đào kinh, mở đường và lập làng.

Chính những con người ấy mới là những người đặt dấu chân đầu tiên lên nhiều vùng đất mà về sau trở thành quê hương của con cháu họ.

 

Theo nhiều tài liệu lịch sử, những nhóm người Hoa di cư xuống phương Nam đã đóng một vai trò đáng kể trong việc khai phá và phát triển kinh tế ở Nam Bộ. Một số nhân vật và cộng đồng người Hoa tham gia vào việc mở mang những vùng đất mới, tiêu biểu như Mạc Cửu ở Hà Tiên và Mạc Thiên Tứ về sau.

Ở Gia Định, Mỹ Tho, Hà Tiên và nhiều vùng khác, người Hoa tham gia mạnh vào thương mại, thủ công nghiệp và giao thông đường thủy. Những bến sông, chợ búa, phố thị dần trở thành nơi giao lưu giữa các cộng đồng cư dân.

Tại vùng Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, người Hoa cũng sống xen cư với người Việt và người Khmer. Mỗi cộng đồng mang theo phong tục, tín ngưỡng, nghề nghiệp và cách tổ chức đời sống riêng; nhưng qua nhiều thế hệ, những yếu tố ấy dần hòa quyện với nhau.

Người Việt thường mở đất, làm ruộng, làm rẫy, đánh cá, làm muối, làm củi; người Khmer vốn cư trú lâu đời trong vùng có truyền thống canh tác lúa nước và gắn bó với phum sóc, chùa chiền; người Hoa nổi bật với hoạt động thương mại, thủ công và dịch vụ. Tuy nhiên, đó chỉ là những nét khái quát. Trên thực tế, nghề nghiệp của ba cộng đồng luôn có sự giao thoa.

Chính sự giao thoa ấy đã tạo nên một vùng văn hóa mà người sau khó có thể phân chia rạch ròi đâu là của riêng người Việt, đâu là của riêng người Hoa, đâu là của riêng người Khmer.

BA SẮC DÂN VÀ MỘT VÙNG VĂN HÓA

Trà Vinh là một trong những vùng đất tiêu biểu cho sự giao thoa ấy.

Người Khmer có chùa Khmer, phum sóc, lễ hội và những sinh hoạt văn hóa riêng. Người Hoa có miếu, hội quán, tín ngưỡng Quan Công và những phong tục truyền thống được mang theo từ quê cũ. Người Việt có đình làng, chùa, nhà thờ và nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian.

Về sau, vùng đất này còn có sự hiện diện của Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và nhiều sinh hoạt tín ngưỡng khác.

Tất cả cùng tồn tại, tiếp xúc và ảnh hưởng lẫn nhau qua nhiều thế hệ.

Ba cộng đồng cư dân sống xen kẽ đã làm nên một nền văn hóa miền đất giồng rất đa dạng và phong phú.

VÌ SAO GỌI LÀ ĐẤT GIỒNG?

Gọi là đất giồng bởi vùng đất này có những dải đất cao, thường là những giồng cát hoặc những vùng đất tương đối cao hơn chung quanh, hình thành trong quá trình bồi tụ lâu dài của sông ngòi, biển và các dòng phù sa.

Trà Vinh nằm trong vùng hạ lưu sông Mekong, giữa hệ thống những nhánh sông lớn và hướng ra biển Đông. Địa hình nơi đây có đồng bằng, sông rạch, cồn, bãi bồi và những giồng cát ven biển. Chính điều kiện tự nhiên ấy đã tạo nên một không gian cư trú rất đặc biệt.

Những vùng đất cao ráo trên các giồng thường là nơi con người chọn để dựng nhà, lập xóm, trồng cây ăn trái và tổ chức đời sống. Phía giữa các giồng có những vùng trũng hơn, thuận lợi cho việc giữ nước và canh tác lúa.

Đất cứ tiếp tục được bồi đắp qua thời gian. Những bãi bồi mới xuất hiện, những cồn mới hình thành, rồi con người lại tìm đến khai phá.

Có những dải đất chưa nổi hẳn lên khỏi mặt nước, dân gian gọi là lương. Ghe thuyền đi lại trong vùng cửa sông, ven biển nếu không quen luồng lạch rất dễ mắc cạn trên những con lương ấy. Có khi chân vịt bị cong, có khi đáy ghe bị va đập hư hỏng.

Đó là những kinh nghiệm mà người dân vùng sông nước truyền từ đời này sang đời khác.

QUÊ NỘI, QUÊ NGOẠI VÀ MIỆT GIỒNG TRONG KÝ ỨC

Quê ngoại của tôi ở quận Cầu Ngang, làng Thũy Hòa và người còn ghọi gọi là ấp Nô Kông ; quê nội ở quận Trà Cú, làng Long Hiệp, mà bà con địa phương thường gọi là Trà Sất.

Trà Vinh là vùng đất nằm giữa hệ thống sông ngòi của đồng bằng sông Cửu Long và mở ra tận biển. Càng về phía Cầu Ngang, Duyên Hải, đất càng mang nhiều dấu vết của vùng ven biển với giồng cát, bãi bồi, cồn và những vùng đất mới.

Ở đây có những vùng cát như Đổng Cao, Ba Động; xa hơn về phía biển có những vùng cồn như Cồn Ngao, Cồn Lợi, Cồn Cù...

Những địa danh ấy đối với người ngoài có thể chỉ là những cái tên trên bản đồ.

Nhưng đối với người quê tôi, mỗi cái tên là một phần ký ức.

Là một con đường.

Một bến nước.

Một mùa cá.

Một mùa muối.

Một mái nhà.

Một tuổi thơ đã đi qua.

ĐẤT CỒN

Một thuở bên trời mang gấm vóc

Chân lúa quê hương thấm nước nguồn

Mẹ hát ca dao miền châu thổ

Con lớn ngọt bùi nước phù sa

Đồng ruộng phăng diều căng cánh gió

Gốc cỏ nối liền cuối chân mây

Đường dây tuôn chỉ cao vời vợi

Nghĩa nước tình sông cũng sum vầy

Nước mặn đồng chua miền lưu xứ

Mảnh đất cheo leo giữa nước trời

Hồn nở năm vành sao muối trắng

Gió ướp thịt da đã mặn mòi

Cây đước, cây bần chân giữ đất

Kinh một, kinh hai rẽ mấy dòng

Cha đi ghe mướn qua thành phố

Chở muối đồng quê đổi lấy tiền

Con học nhấp nhhem vần quốc ngữ

Mẹ vẽ I, T trên lá xanh

Lá chuối sắp trên vùng cát mịn

Lằn chữ in sâu tiếng vỡ lòng

Phênh sóng lá khô đan làm vạt

Chiếu lát mùng thô ấm giấc dài

Manh nóp đường xa cha cơ cực

Mẹ hát ngọt bùi con ngủ say

Sương khuya giọt vắn giọt dài

Đất cồn sóng vỗ đêm ngày thở than

Trùng trùng cát đổ sương tan

Lúa mọc lan tràn cây trái xanh tươi

Cố xưa bây giờ mây gió loạn

Cây trái về đâu đất tan tành

Mái lá sườn cây buồn nghiêng ngả

Người giạt phương nào lối cỏ hoang?

Cồn Cù ơi! xa rồi năm tháng

Giặc nước – tình sông đã nghẹn ngào

Sóng bổ Cồn xưa còn vọng mãi

Có tiếng quê hương tuổi ấu thời

Ta đứng bên trời nghe xa xót

Một thuở phù sa đẹp dấu người

Trên đất khai sinh hồn phấn đấu

Giờ đứng nơi nầy thương nhớ mong.

(Đất Cồn)

NHỮNG CON LÁNG CỦA QUÊ HƯƠNG

Những địa danh như Láng Thé, Láng Sắc, Láng Chim, Láng Cò... nối dài qua nhiều vùng quê. Ăn liền về phía Trà Cú còn có Láng Đôn Xuân.

Những cái tên ấy nghe qua tưởng như bình thường, nhưng với người miền quê, chúng gợi lên cả một không gian sống.

Đó là những con đường đất, những bờ ruộng, những dòng kinh, những hàng bần ven nước, những buổi trưa nắng cháy và những chiều gió chướng thổi về.

Nhạc sĩ Trúc Phương từng có một thời gian sống ở Ngã Ba, quận Trà Cú. Trong ca khúc “Trà Cú Trong Tình Thương Mật Ngọt”, ông đã đưa những địa danh rất quen thuộc của quê Trà Cú vào lời ca:

“Anh lại theo em dzìa Láng Đôn Xuân...”

Chỉ một địa danh thôi, đối với người xa quê cũng có thể mở ra cả một miền ký ức.

ĐẤT GIỒNG – NƠI NHỮNG DÒNG NGƯỜI GẶP NHAU

Nhìn lại lịch sử hình thành vùng đất này, tôi nghĩ điều đáng quý nhất không phải là tìm xem cộng đồng nào đến trước, ai đến sau, mà là nhìn thấy quá trình những con người khác nhau đã cùng sống trên một vùng đất.

Người Khmer đã có mặt từ lâu đời.

Người Việt từ nhiều miền lần lượt tìm đến.

Người Hoa theo những dòng di cư và thương mại tìm về phương Nam.

Họ mang theo ngôn ngữ, tín ngưỡng, món ăn, nghề nghiệp, phong tục và những câu chuyện riêng của quê cũ.

Rồi qua năm tháng, những thứ ấy hòa vào nhau.

Một món ăn có thể mang dấu vết của ba nền văn hóa.

Một ngôi chợ có thể nghe cùng lúc tiếng Việt, tiếng Khmer, tiếng Tiều, tiếng Quảng.

Một vùng quê có thể có chùa Khmer, miếu Hoa, đình Việt và nhà thờ Công giáo trong cùng một không gian.

Đó chính là điều làm nên vẻ riêng của văn minh miệt giồng.

Không phải một nền văn minh được tạo nên bởi một cộng đồng duy nhất, mà là một nền văn hóa được vun bồi qua nhiều thế hệ, bởi những con người cùng sống, cùng làm ăn, cùng chịu nắng mưa và cùng xem mảnh đất này là quê hương.

Và đối với tôi, quê hương ấy không chỉ là một địa danh trên bản đồ.

Quê hương là Long Hiệp.

Là Thủy Hòa.

Là Trà Cú, Cầu Ngang.

Là những con giồng chạy dài trong nắng.

Là những dòng kinh, những bến nước.

Là Cồn Cù, Ba Động, Láng Thé, Láng Sắc, Láng Chim...

Là nơi ông nội tôi từ một phương trời xa lạ tìm đến, rồi ở lại, lập gia đình và để lại cho con cháu một quê hương.

Từ những bước chân của người đi tìm đất sống ấy, một câu chuyện gia đình hòa vào câu chuyện lớn hơn của cả vùng đất phương Nam.

NHỮNG CÂY GIỮ ĐẤT VÀ NHỮNG MÙA THƠ ẤU

Ven những vùng cửa sông, ven biển, có những loài cây mà rễ của chúng không chỉ nằm sâu dưới lòng đất. Có cây mọc những rễ chống từ thân, có cây lại có những rễ nhô lên khỏi mặt đất để bám giữ lấy bùn phù sa. Tôi thường nghĩ những bộ rễ ấy chẳng khác gì những đôi chân âm thầm giữ đất.

Sóng đánh vào phù sa theo dòng nước trôi về, rễ cây giữ lại.

Năm này qua năm khác, đất cứ lắng xuống, bãi bồi cứ lớn dần. Rồi từ những bãi bồi ấy, cây cối mọc lên, chim chóc tìm về, con người lại tìm đến dựng nhà, làm ruộng, làm rẫy.

Có lẽ một phần quê hương cũng được hình thành từ những đôi chân âm thầm như thế.

Lúc còn nhỏ, mỗi dịp Tết hoặc nghỉ hè, tôi thường được má đưa về thăm quê ngoại. Tôi thích nhất là chạy trên những bãi cát cùng mấy người anh em cô cậu. Sau mùa vụ, trên những luống khoai vẫn còn sót lại những củ nằm dưới lớp đất. Bọn trẻ chúng tôi tha hồ moi tìm. Có củ còn nóng hổi, vừa đào lên đã đem ăn, ruột khoai bở, giòn giòn và ngọt lịm.

Những ngày ấy, một củ khoai tìm được cũng đủ làm chúng tôi vui cả buổi.

Có khi chúng tôi đi đào hang bắt dế đá, dế cơm. Chiều xuống, ông ngoại thường un khói ngoài rẫy bằng phân trâu khô. Khói bay lên, bọ rầy từ trong những bụi cây và đồng ruộng bay tứ tung. Bọn trẻ chúng tôi chạy theo bắt trên những nhánh sầu đâu hoặc những cây đào lộn hột.

Những con ấu trùng sống trong đất, chúng tôi thường gọi là đuông đất. Mỗi khi ông ngoại cuốc đất làm rẫy, bọn trẻ chúng tôi lại tha hồ tìm bắt đuông và dế.

Đuông đất và dế cơm đem rang với muối, ăn với cơm và chan thêm chút nước canh rau, vậy mà ngon đến lạ. Dế thì chỉ cần lặt đầu, bẻ càng. Đuông thì phải ngâm qua nước muối cho nhả đất, rồi làm sạch phần ruột trước khi rang.

Sau này, dì Tám của tôi còn nghĩ ra cách nhét đậu phộng vào bụng con đuông, con dế rồi đem chiên giòn. Món ăn dân dã ấy đối với bọn trẻ chúng tôi khi đó chẳng khác gì một món đặc sản.

Nói đến đuông lại phải nhớ đến đuông chà là.

Hồi nhỏ tôi không thích loại này. Nó to gần bằng ngón chân cái, lại ngo ngoe lúc nhúc, nhìn thấy mà gớm gớm. Nhưng về sau, khi lớn lên, biết lai rai với chút rượu đế Xuân Thạnh, tôi mới thấy món đuông chà là quả thật là một thứ đặc sản rất riêng của miền quê.

Đuông chà là là ấu trùng của một loài bọ cánh cứng sống trong thân cây họ cau, chà là. Những cây chà là ngày trước mọc khá nhiều ở vùng Bến Giá, Long Toàn. Người quê có kinh nghiệm nhìn cây chà là nào mà đọt bị quặt, bị héo hoặc gãy khác thường thì đoán ngay bên trong có thể có đuông.

Cây được đốn xuống, người ta lấy dao đẵn từng khúc gần phần ngọn rồi bó lại đem ra chợ bán. Có nơi bó thành từng chục ngọn.

Những thứ tưởng như rất bình thường của đồng quê ngày ấy, bây giờ nhớ lại mới thấy đó chính là một phần của đời sống miệt giồng.

Rồi còn món khô cá khoai trộn giấm với lá sầu đâu thái nhỏ. Vị chua, vị đắng, vị mặn của cá khô hòa với nhau, ăn lai rai cũng thấy “tới” lắm.

Ngày ấy, những món ăn ấy chẳng ai gọi là đặc sản.

Chỉ là những gì quê mình có.

Nhưng chính những thứ bình dị ấy lại theo người ta suốt một đời.

 

BỮA CƠM VỚI ÔNG NGOẠI

Hồi đó, những bữa cơm trưa đôi khi tôi ngồi ăn với ông ngoại trong cái chòi nhỏ ngoài rẫy, được cất gần một bụi tre gai.

Ông ngoại ít nói. Lại thêm ông bị lãng tai nên tôi rất ít khi nói chuyện được với ông mỗi lần về thăm.

Mỗi lần má dẫn tôi về nhà ngoại, vừa xuống xe đò, vào nhà trong cởi áo ra là tôi chạy ngay ra ngoài rẫy.

Ông ngoại đang cuốc đất. Nhìn thấy tôi, ông ngừng tay, nói:

“Cháu mới qua hử...”

Rồi ông lại cúi xuống tiếp tục công việc.

Suốt thời thơ ấu, hình như tôi không có dịp nói chuyện nhiều với ông. Có lẽ vì ông nghe không rõ, mà tôi thì nói quá nhỏ.

Lúc ấy tôi khoảng mười tuổi.

Trong ký ức của tôi, ông ngoại luôn là một người đàn ông ít lời, quanh năm gắn với mảnh rẫy, với cuốc đất, với những luống rau và những ngày nắng gió.

Duy chỉ có một lần tôi còn nhớ rất rõ.

Một lần ông bị bệnh. Má đỡ ông ngồi dậy và mớm cháo cho ông. Tôi đứng gần trước mặt ngoại. Ông nhìn tôi rồi nói:

“Cháu đấm lưng cho ông, ông mỏi quá.”

Tôi hỏi:

“Đấm chỗ nào?”

Ông chỉ cho tôi.

Tôi dùng hai bàn tay nhỏ bé của mình đấm nhẹ hai bên vai ông. Một lúc sau, ông xoa đầu tôi rồi nói:

“Ông thấy khỏe quá!”

Tôi vui lắm.

Tôi đi ngủ và còn hứa khi thức dậy sẽ đấm lưng tiếp cho ông.

Nhưng tôi không có dịp nữa.

Tôi chợt tỉnh giấc vì nghe tiếng má khóc thút thít:

“Cậu ơi... cậu bỏ con đi rồi...”

Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy ông ngoại.

Một cái chết rất bình thường của một người già ở quê, nhưng đối với một đứa trẻ mười tuổi, đó là lần đầu tiên tôi hiểu rằng có những người mình thương, khi đã đi rồi thì không bao giờ trở lại.

 

CÂU CHUYỆN VỀ HỌ NGOẠI

Theo lời má kể lại, trước khi mất, ông ngoại có trối trăn rằng khi lập mộ bia nên ghi họ Trịnh.

Tôi không biết chuyện ấy có thật sự liên quan đến nguồn gốc dòng họ hay không. Tôi chỉ nhớ lời má kể và từ đó tự suy nghĩ.

Có thể tổ tiên bên ngoại tôi vốn mang họ Trịnh?

Có thể những thế hệ trước đã từ phương Bắc di cư vào phương Nam?

Hay trong những biến động của lịch sử, dòng họ đã có lúc thay đổi họ tên vì hoàn cảnh?

Tất cả những điều đó, đến nay tôi không còn đủ tài liệu để xác nhận.

Tôi chỉ có thể ghi lại như một mảnh ký ức gia đình.

Má tôi gọi ông ngoại bằng tiếng “Cậu”. Cách gọi ấy cũng làm tôi suy nghĩ. Trong nhiều gia đình người Việt ở Nam Bộ, cách gọi “cậu” dành cho người lớn tuổi trong họ ngoại là một tập quán rất quen thuộc. Mặt khác, trong cộng đồng người Hoa, trong đó có người Tiều Châu, cách xưng hô cũng có những âm gọi riêng như A Pa, A Ma...

Có lẽ qua nhiều đời sống xen lẫn, tiếng nói và cách xưng hô của các cộng đồng cũng đã ảnh hưởng lẫn nhau.

Những điều ấy rất khó phân định rạch ròi.

Nhưng chính sự pha trộn ấy lại làm cho đời sống miệt giồng có một nét riêng mà tôi đã nghe, đã sống và đã mang theo từ thuở nhỏ.

 

NHỮNG NGƯỜI CẬU BÊN NGOẠI

Họ hàng bên ông bà ngoại tôi sống rải rác ở quận Cầu Ngang và vùng Long Toàn.

Lúc nhỏ, tôi chỉ biết những cậu, mợ, cô, dì sống quanh nhà ông ngoại ở ấp Nô Công, xã Mỹ Hòa. Một số bà con ở xa, tôi chỉ nghe má nhắc tên chứ chưa bao giờ gặp mặt.

Duy có người cậu thứ ba, anh ruột của má, là người tôi còn giữ được một hình ảnh rất mơ hồ trong ký ức.

Khoảng những năm 1940, trong thời kỳ chiến tranh và biến động, cậu tham gia hoạt động kháng chiến. Cậu bị bệnh sốt rét rất nặng. Có lần má dẫn tôi đi rất xa, tận vùng Cồn Ngao, để thăm cậu.

Tôi còn nhớ mang máng gương mặt cậu xương xương, có nhiều nét giống ông ngoại. Người cậu gầy ốm, đôi mắt có vẻ mệt mỏi vì bệnh, nhưng khi nhìn tôi, ánh mắt vẫn rất mạnh.

Cậu gọi tôi và người anh thứ ba, con ruột của cậu, đến bên giường bệnh.

Cậu vuốt đầu hai đứa rồi căn dặn:

“Hai con nhớ ráng học hành đàng hoàng, để trở thành người hữu dụng cho đất nước. Cậu chắc không sống được lâu, vì cậu biết sức mình...”

Nói xong, cậu ngả lưng xuống chiếc vạt tre.

Tôi và anh ba lại chạy ra ngoài chơi.

Trẻ con ngày ấy đâu hiểu được những lời nói đó có thể là lời từ biệt.

Ngày hôm sau, tôi theo má trở về Cồn Cù.

Từ đó, tôi không còn gặp cậu nữa.

Sau này má mới nói cho tôi biết cậu đã mất và được chôn cất ở vùng ấy.

 

NHỮNG NĂM THÁNG CHIẾN TRANH

Má kể rằng cậu có làm một bài thơ dài khoảng hai trang giấy học trò. Dì Hai cất bài thơ dưới tấm trải bàn thờ cậu.

Về sau, vì sợ bài thơ có thể gây liên lụy trong hoàn cảnh chiến tranh, dì đã đem đốt.

Một bài thơ hai trang giấy học trò đã biến mất.

Nhưng câu chuyện về nó vẫn còn lại trong ký ức gia đình.

Trong những năm chiến tranh ấy, dượng Hai tôi sống trong nhà ông bà ngoại. Trước năm 1945, dượng từng ở Long Hiệp, làm việc trong làng nên bà con thường gọi là ông Bộ Cẩn.

Sau này, theo lời má kể, vì có tham gia kháng chiến và hoàn cảnh chiến tranh ngày càng căng thẳng, dượng trở về nhà ông bà ngoại ở. Trong căn buồng của dượng có một cái hầm chìm dưới chiếc giường ngủ.

Lúc nhỏ, mỗi khi về nhà ngoại, tôi ngủ trên chiếc giường tre bên ngoài. Có những đêm chợt tỉnh giấc, tôi nghe tiếng người thì thầm trong căn buồng phía trong. Nhưng lúc ấy tôi còn quá nhỏ nên chẳng hiểu đó là chuyện gì.

Mãi đến sau năm 1975, má mới kể cho tôi biết căn hầm ấy từng được dùng làm nơi trú ẩn, hội họp và che giấu những người hoạt động trong thời chiến.

Sau này tôi mới hiểu rằng trong gia đình bên ngoại, có nhiều người đã tham gia những hoạt động khác nhau trong chiến tranh. Người còn, người mất; người sống sót rồi tiếp tục cuộc đời theo những con đường khác nhau.

Dượng Hai vẫn sống một cuộc đời nghèo khó với mảnh ruộng, vuông rẫy. Ngày ngày dượng vẫn gánh nước tưới những liếp tần ô, liếp cải, những giàn bầu.

Tôi từng nghĩ đến một điều rất buồn:

Có những người từng được những người nghèo khó ấy che chở, giúp đỡ trong những năm tháng gian nguy. Về sau, khi họ có địa vị, có nhà cao cửa rộng, có mấy người còn quay về chốn cũ để nhìn lại những người từng cưu mang mình?

Dượng Hai sau này được cấp giấy chứng nhận “Gia đình có công với cách mạng”.

Nhưng tôi nghĩ, đối với dượng, mảnh giấy ấy có lẽ không quan trọng bằng mảnh đất ông bà để lại và cuộc sống mà dượng đã tự mình gìn giữ.

Có một lần, trong thời kỳ vận động vào hợp tác xã, cán bộ đến thuyết phục dượng.

Dượng cầm mảnh giấy chứng nhận và cây dao phai, nói trong sự bức xúc:

“Thằng nào đụng vô miếng đất ông bà tao để lại, tao chém không chừa một thằng!”

Đó là lời nói của một người nông dân giữ lấy mảnh đất tổ tiên.

Rồi mọi việc cũng qua đi. Cuộc sống thay đổi, đất nước bước vào những thời kỳ mới, và những con người của một thế hệ đã dần già đi.

 

NHỮNG NGƯỜI ĐÃ ĐI QUA CHIẾN TRANH

Má tôi còn kể về một người em chú bác tên Trần Th. T., từng giữ một vị trí lãnh đạo ở tỉnh Trà Vinh.

Theo lời má, ông mất khoảng năm 1968 trong chiến khu, trong một trận bom ác liệt. Những chi tiết về hoàn cảnh cụ thể của cái chết ấy, tôi không còn tài liệu để kiểm chứng nên chỉ xin ghi lại như lời kể của người trong gia đình.

Má còn kể rằng trước đó ông từng có một lần đi họp ngoài Bắc. Trong thời gian ấy, ông có chỉ thị cho cấp dưới tạm hoãn thi hành một bản án tử hình để chờ ông trở về.

Người bị bản án ấy là một người cậu khác của tôi, thường gọi là cậu Bảy.

Cậu Bảy lúc đó làm chức Cai Tổng ở quận Trà Cú. Theo lời má, cậu từng tham gia các hoạt động chống lực lượng Việt Minh trong vùng nên về sau bị phía đối phương kết án tử hình.

Sau đó cậu bị chuyển khỏi chức Cai Tổng và làm trong ngành cảnh sát.

Má kể rằng cậu bị ám sát trong một bữa cơm chiều tại một căn nhà trọ ở quận Cầu Kè, bởi một người phụ nữ có liên quan đến hoạt động địch vận.

Tôi không biết tất cả những chi tiết ấy có chính xác đến đâu. Chiến tranh đã đi qua quá lâu, người kể lại cũng đã già, nhiều người trong cuộc đã mất.

Nhưng cái tôi nhớ nhất không phải là những chức vụ hay những bản án.

Mà là những con người.

Là cậu Ba gầy ốm nằm trên chiếc vạt tre.

Là cậu Bảy chết trong một buổi chiều.

Là ông ngoại nằm trên giường bệnh để đứa cháu nhỏ đấm lưng.

Là bà ngoại ra đi trước đó không lâu.

Là má tôi ôm những nỗi đau ấy trong lòng suốt cả cuộc đời.

Trước ngày cậu Bảy mất vài tháng, bà ngoại cũng qua đời sau một cơn bệnh nặng. Má luôn day dứt vì nghĩ rằng có thể mình đã cho bà uống thuốc quá liều.

Rồi đến cái chết của người em trai mà má thương yêu nhất.

Hai biến cố nối tiếp nhau khiến má đau khổ rất lâu. Sau đó má phát nguyện trường chay cho đến cuối đời.

Đó là cách một người mẹ quê tìm đến sự bình an sau những mất mát mà chiến tranh và số phận đã đem đến.

 

SAU NGÀY ĐẤT NƯỚC ĐOÀN TỤ

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, bên nội, bên ngoại có người đã chết, có người còn sống.

Người chết thì đã yên mồ.

Người còn sống thì có dịp tìm về đoàn tụ.

Trong một gia đình, có người đứng bên này, có người đứng bên kia của một cuộc chiến. Nhưng máu mủ vẫn là máu mủ. Khi chiến tranh chấm dứt, họ hàng lại tìm đến nhau.

Nhìn lại từ tuổi già, tôi càng thấm thía rằng không có một ranh giới chính trị nào đủ sức chia cắt mãi tình ruột thịt.

Cuộc chiến kéo dài nhiều thập niên đã để lại quá nhiều mất mát. Người Việt ở cả hai phía đều chịu thương tích, đều có người thân chết, đều có những gia đình ly tán.

Những tranh chấp về ý thức hệ và sự can dự của các cường quốc bên ngoài đã khiến người Việt phải cầm súng chống lại người Việt.

Điều còn lại sau cùng không phải là những khẩu hiệu.

Mà là những nấm mồ.

Những người mẹ mất con.

Những người vợ mất chồng.

Những đứa trẻ lớn lên không có cha.

Và những vết thương trong lòng người đôi khi kéo dài qua nhiều thế hệ.

Tôi viết những dòng này không phải để khơi lại hận thù.

Tôi viết để nhớ.

Nhớ rằng chiến tranh đã đi qua quê hương tôi như thế nào.

Và nhớ rằng sau tất cả, những người cùng một dòng máu vẫn tìm về với nhau.

Đó có lẽ là sức mạnh lớn nhất của tình gia đình và cũng là sức mạnh của tình người.

 

QUÊ NỘI TRÊN NHỮNG CON GIỒNG TRÀ CÚ

Cũng ở vùng đất bồi ấy, quê nội tôi ở Trà Cú có những con giồng chạy dài.

Nhưng vì nằm sâu hơn vào phía trong, được phù sa bồi đắp lâu năm và gần hệ thống sông Hậu, đất đai ở đây màu mỡ hơn.

Phù sa theo những nhánh sông len vào đồng ruộng. Nước sông có khi đục ngầu sau những mùa mưa lũ. Những giồng đất cong cong như lưỡi sóng, được hình thành qua nhiều năm tháng, chạy dài giữa những cánh đồng.

Giữa các giồng là những vùng đất thấp, nơi nước tụ lại và tạo thành những ruộng lúa, ao, bàu, lung và đầm.

Ở Trà Cú, đời sống cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt của hai mùa nước. Mùa gió chướng, nước mặn theo thủy triều từ biển đi vào những vùng thấp, tạo nên thứ nước lợ đặc trưng. Đến mùa mưa, nước ngọt từ sông và đồng ruộng lại tràn về.

Trên những con giồng cao ráo, cư dân sống quần tụ đông đúc.

Người Khmer lập nên những phum sóc, với những địa danh mà tôi còn nhớ như Sóc Xoài Xiêm, Xoài Thum, Sóc Ruộng, Sóc Vàm Buông...

Có những con giồng mang tên rất mộc mạc như Giồng Lức, Giồng Trôm.

Người địa phương còn có câu nói:

“Xi bai Giồng Lức, phoóc tức Giồng Trôm.”

Những câu nói ấy, dù đôi khi người đời sau không còn hiểu hết nghĩa gốc, vẫn là những dấu vết của một thời cư dân Khmer và Việt sống gần gũi với nhau trên cùng một vùng đất.

Người Việt và người Hoa cũng sống xen lẫn với người Khmer. Một bộ phận sống dọc theo các bờ sông, nơi có ghe thuyền qua lại, như Ngã Ba, Cầu Hanh, Ba Tục, Bến Dừa, Bến Thế, Bắc Trang...

Một số khác sống giữa đồng, lập thành những xóm nhỏ như Xóm Chòi, Xóm Chùa.

Ba cộng đồng cư dân sống cạnh nhau, làm ăn với nhau, giúp đỡ nhau trong những ngày khó khăn và cùng tham dự nhiều sinh hoạt của làng xóm.

Rồi hôn nhân cũng nối họ lại với nhau từ đời này sang đời khác.

Những thế hệ “đầu gà, đít vịt”, hay “Việt lai Miên, Miên lai Việt” lần lượt ra đời.

Những cách gọi dân gian ấy đôi khi nghe vui tai, nhưng phía sau nó là một sự thật rất đẹp:

Con người đã vượt qua ranh giới của nguồn gốc để trở thành bà con, hàng xóm và người thân của nhau.

Đó chính là một trong những nét đặc biệt của đời sống miệt giồng.

 

BỜ RUỘNG VÀ NHỮNG LOÀI RAU QUÊ

Ruộng đồng Trà Cú ngày trước được phân chia bởi những bờ đất.

Dọc theo những bờ ruộng, các loại cây và rau dại mọc chen nhau: điên điển, mò om, rau đắng...

Về những vùng đất trũng, mùa nước về lại thấy hoa súng, hoa sen, điên điển nở vàng trên mặt nước.

Những thứ ấy vừa là cảnh quê, vừa là thức ăn của người nghèo.

Rau mọc ngoài đồng.

Cá dưới sông.

Cua dưới ruộng.

Bông điên điển trên bờ.

Tất cả góp lại thành bữa cơm quê.

Có lẽ vì vậy mà người quê ít khi quên được mùi vị của những ngày nghèo khó.

HOA ĐIÊN ĐIỂN

Mấp mé bờ đê hàng điên điển

Hoa nở vàng theo dọc lối về

Hoa dưa mẹ ủ chua chua ngót

Chấm tô mắm kho khăm khẳm mùi

Bờ sông bìm bịp kêu nước lớn

Mẹ vẫn một đời sống chắt chiu

Nuôi con khôn lớn thêm từng đứa

Hoa điên phận người chịu hẩm hiu

Đất quê có đứa thành danh phận

Có đứa bọt bèo sống nổi trôi

Hương cũ một thời sao quên được

Giữ chặt hồn quê chẳng đổi dời.

MIỆT GIỒNG TRONG TÔI

Từ những củ khoai đào sót lại ngoài rẫy, những con dế trong hang đất, những con đuông nằm trong thân cây chà là, đến những bông điên điển vàng bên bờ ruộng...

Từ tiếng ông ngoại gọi:

“Cháu mới qua hử...”

Đến tiếng má khóc:

“Cậu ơi... cậu bỏ con đi rồi...”

Từ căn chòi nhỏ ngoài rẫy đến những căn hầm bí mật của một thời chiến tranh.

Từ Cồn Ngao, Cồn Cù đến Mỹ Hòa, Long Toàn, Long Hiệp, Trà Cú...

Tất cả đã trở thành những mảnh ghép của một miền quê trong ký ức tôi.

Tôi càng lớn tuổi càng hiểu rằng quê hương không chỉ được tạo nên bởi những con sông, con giồng, cánh đồng hay những địa danh ghi trên bản đồ.

Quê hương còn được tạo nên bởi những con người đã sống trên mảnh đất ấy.

Có người đến từ phương Bắc.

Có người từ miền Trung vào.

Có người đã sống nơi đây từ bao đời.

Có người theo đường biển mà đến.

Có người sinh ra trên chính con giồng này.

Họ gặp nhau, cưới nhau, sinh con, làm ruộng, làm rẫy, buôn bán, đánh cá, dựng nhà, lập xóm.

Rồi họ nằm xuống trên chính mảnh đất mà cha ông họ từng khai phá.

Đất giữ người. Người giữ đất.

Và qua bao nhiêu thế hệ, những con giồng ấy đã trở thành quê hương.

Lần đầu tiên trong đời tôi nghe được tiếng phát thanh từ cái loa cột trên một cây tre dài. Tôi thường ẵm em gái thứ Năm, lúc đó chừng hơn một tuổi, đi đến ngồi chơi gần cây cột tre nghe cái loa phát thanh tin tức và ca nhạc.

“Đêm nay trăng sáng quá em ơi,
Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu…”

Bài hát ấy cứ hát đi hát lại. Tôi nghe hoài đến gần thuộc lòng, dù lúc đó chẳng hiểu hết ý nghĩa của những lời ca. Tôi chỉ thấy tiếng hát từ trong chiếc loa vang ra giữa buổi chiều quê, lúc thì rè rè, lúc thì trong trẻo, hòa lẫn với tiếng gió đồng, tiếng xe bò và tiếng người mua bán ngoài chợ. Đối với một đứa trẻ quê như tôi, chiếc loa phát thanh ấy giống như một cánh cửa mở ra một thế giới rất xa mà mình chưa từng biết đến.

Sau nầy tôi mới hiểu, những năm tháng ấy là những năm đất nước đang bước vào một thời kỳ mới. Người lớn nói với nhau đủ thứ chuyện: chuyện chính quyền, chuyện bầu cử, chuyện chiến tranh, chuyện người đi kẻ ở. Nhưng trẻ con chúng tôi chẳng quan tâm bao nhiêu. Chúng tôi chỉ biết đi học, chạy rong ngoài đồng, bắt cá, hái bần, bắt dế và chiều chiều tụ tập trước sân chùa nghe tiếng nhạc ngũ âm.

Tuổi thơ của tôi cứ thế trôi đi giữa những biến động mà lúc ấy tôi chưa đủ tuổi để hiểu.

Có những buổi sáng, ba mở cửa tiệm rất sớm. Những bao gạo, chai nước mắm, đường, muối, thuốc rê, bánh kẹo và đủ thứ hàng hóa được sắp xếp ngay ngắn trên những chiếc kệ gỗ. Người trong Sóc đi chợ ghé vào mua hàng. Người Việt nói tiếng Việt, người Khơme nói tiếng Khơme, người Hoa nói tiếng Tiều Châu. Có người nói một thứ tiếng, có người nói được hai ba thứ tiếng. Trong cái cửa tiệm nhỏ của ba tôi, những thứ tiếng ấy cứ chen nhau mà sống.

Tôi thường ngồi một góc nhìn ba tính tiền. Ba có cái bàn tính của người Hoa, những hạt gỗ chạy lên chạy xuống theo từng ngón tay. Tiếng lách cách của bàn tính đối với tôi lúc ấy rất quen thuộc. Ba vừa tính tiền vừa nói chuyện với khách, có khi bằng tiếng Việt, có khi bằng tiếng Khơme, có khi quay sang nói tiếng Tiều Châu với người quen.

Tôi không biết lúc đó mình đang sống trong một thế giới văn hóa rất đặc biệt.

Một vùng đất mà người Việt, người Khơme và người Hoa đã sống cạnh nhau từ nhiều thế hệ.

Họ mua bán với nhau, làm ruộng với nhau, đi đám cưới, đám tang, đi chùa, đi đình, cùng ăn uống trong những ngày lễ hội. Có khi một gia đình có ông bà người Hoa, con cháu lấy người Việt; hoặc người Việt lấy người Khơme. Những đứa trẻ sinh ra chẳng biết mình phải đứng về phía nào. Chúng chỉ biết đứa nào cùng chơi với mình thì gọi là bạn.

Tôi cũng có những người bạn như vậy.

Có đứa tên Việt, có đứa tên Khơme, có đứa mang họ Hoa. Chúng tôi cùng chạy trên những con đường đất, cùng tắm sông, cùng bắt cá lia thia, cùng hái trái bần. Có khi cãi nhau rồi đánh nhau, lát sau lại rủ nhau đi chơi như chưa từng có chuyện gì.

Có lẽ chính những năm tháng ấy đã làm cho tôi hiểu rằng tình người đôi khi giản dị hơn những điều người lớn nói rất nhiều.

Người lớn có thể chia nhau thành phe nầy, phía kia vì thời cuộc. Nhưng trẻ con thì chỉ biết thương nhau bằng một thứ tình cảm rất tự nhiên.

Tôi còn nhớ những buổi chiều sau giờ học. Mặt trời xuống thấp phía sau những hàng dừa. Con đường đất đỏ vàng lên dưới ánh nắng cuối ngày. Từ trong Sóc vọng ra tiếng chùa. Tiếng trống, tiếng nhạc ngũ âm và tiếng người gọi nhau làm cho cả một vùng quê như có sức sống riêng.

Có những hôm trời mưa, đường đất nhão ra, chân đứa nào cũng dính đầy bùn. Chúng tôi vẫn chạy đi bắt cá, tìm dế, đào hang. Về tới nhà bị má la một trận vì quần áo lấm lem. Nhưng hôm sau đâu lại vào đó.

Tuổi thơ nhà quê là vậy.

Không có đồ chơi đẹp.

Không có những trò giải trí như trẻ con sau nầy.

Chỉ có con diều giấy, chiếc ná cao su, con dế trong cái hộp quẹt, vài trái bần chua, mấy con cá lia thia và một cánh đồng rộng đến tận chân trời.

Vậy mà chúng tôi vui.

Vui một cách hồn nhiên.

Có những buổi trưa tôi theo ba ra ruộng hoặc theo người lớn đi thăm bà con. Những con đường đất chạy ngoằn ngoèo giữa ruộng lúa. Hai bên là những bờ đất có điên điển, rau đắng, mò om mọc chen nhau. Mùa nước về, những vùng trũng đầy hoa súng và hoa sen. Những cánh cò trắng bay lên mỗi khi có người đi ngang.

Tôi thường đứng lại nhìn.

Không hiểu tại sao những hình ảnh ấy cứ in sâu vào trí nhớ tôi đến tận bây giờ.

Có lẽ bởi vì quê hương lúc ấy chưa bị chia cắt thành những khái niệm lớn lao.

Quê hương chỉ là con đường trước cửa nhà.

Là tiếng má gọi ăn cơm.

Là tiếng ba mở cửa tiệm.

Là tiếng mái chèo khua trên mặt nước.

Là tiếng gà gáy trưa.

Là mùi khói rơm.

Là vị chua của trái bần và vị mặn của con mắm sặc.

Là tiếng kinh trong chùa Khơme vọng ra giữa buổi chiều.

Những thứ bình thường ấy, khi còn nhỏ mình đâu biết đó chính là quê hương.

Đến khi đi xa rồi mới thấy nhớ.

Đến khi tuổi đời đã đi gần hết một vòng mới hiểu rằng những điều tưởng như nhỏ bé ấy lại là những thứ khó tìm lại nhất.

Những năm sau 1954, cuộc sống ở Trà Cú dần dần có những thay đổi. Người tập kết đã đi, người ở lại tiếp tục cuộc sống của mình. Chính quyền mới được tổ chức lại. Trường học mở cửa. Chợ búa tiếp tục đông đúc. Người dân lại lo chuyện làm ăn, ruộng rẫy, cưới hỏi, sinh con và dựng nhà.

Nhưng dưới cái vẻ bình thường ấy, những bất ổn của thời cuộc vẫn âm thầm tồn tại.

Người lớn nói chuyện với nhau nhỏ hơn trước.

Có những chuyện chỉ nói trong nhà.

Có những người sáng hôm trước còn thấy ở chợ, hôm sau đã nghe nói đi đâu mất.

Có những gia đình có người đi về phía nầy, người khác lại đi về phía kia.

Tôi còn nhỏ nên không hiểu hết.

Tôi chỉ thấy người lớn đôi khi đang nói chuyện thì im bặt khi có người lạ bước vào.

Có những buổi tối ba má ngồi nói chuyện rất lâu. Tôi nằm trên giường nghe tiếng nói nhỏ từ bên ngoài vọng vào nhưng chẳng hiểu gì. Đến khi lớn lên, tôi mới biết những năm tháng ấy đã bắt đầu đặt dấu ấn rất sâu lên số phận của từng gia đình.

Gia đình tôi cũng không nằm ngoài những biến động ấy.

Bên nội, bên ngoại, người theo bên nầy, người theo bên kia. Có người chết vì chiến tranh. Có người đi tập kết. Có người ở lại. Có người làm việc cho chính quyền. Có người hoạt động bên ngoài. Có người chỉ muốn yên ổn làm ăn nhưng cuối cùng cũng bị cuốn vào vòng xoáy thời cuộc.

Nhìn lại cuộc đời của những người thân trong gia đình, tôi càng thấm thía một điều:

Chiến tranh không chỉ diễn ra ngoài chiến trường.

Chiến tranh còn đi vào từng mái nhà.

Nó chia người cha với người con, anh với em, bà con với nhau. Có khi hai người cùng một dòng máu nhưng đứng ở hai phía khác nhau, mà trong lòng vẫn thương nhau.

Đó là nỗi đau mà người ngoài cuộc khó hiểu hết.

Gia đình tôi sau những năm tản cư từ Cồn Cù trở về Trà Cú tưởng rằng đã tìm được một nơi yên ổn để làm ăn. Ba tiếp tục buôn bán. Má lo việc nhà và chăm sóc đàn con. Anh em chúng tôi tiếp tục đi học.

Cuộc sống tưởng như đã trở lại bình thường.

Nhưng lịch sử không cho người dân quê được sống bình yên lâu như vậy.

Những năm tháng tiếp theo, tiếng súng lại dần dần xuất hiện nhiều hơn trong cuộc sống. Những câu chuyện người nầy bị bắt, người kia bị mất tích, chỗ nọ có đánh nhau, chỗ kia có người chết bắt đầu trở thành những câu chuyện mà người lớn thường nói nhỏ với nhau.

Còn chúng tôi vẫn lớn lên.

Vẫn đi học.

Vẫn đá banh trên sân đất.

Vẫn tắm sông.

Vẫn hái bần.

Vẫn nghe tiếng nhạc ngũ âm trong những ngày lễ của người Khơme.

Và vẫn tưởng rằng cuộc đời sẽ cứ như vậy mãi.

Nhưng rồi tôi cũng lớn dần.

Từ một đứa trẻ chỉ biết chạy theo những trái bần chín bên bờ sông, tôi bắt đầu nhìn thấy phía sau những hàng cây, những con sông và những cánh đồng quê mình là một lịch sử dài và phức tạp.

Tôi bắt đầu hiểu rằng mỗi người trong gia đình mình đều mang theo một câu chuyện.

Mỗi con đường tôi từng đi qua đều có một câu chuyện.

Mỗi ngôi chùa, mỗi bến nước, mỗi giồng đất, mỗi cái tên Sóc, tên Bến, tên Giồng đều có một lớp ký ức nằm phía dưới.

Và có lẽ chính từ những năm tháng tuổi thơ ấy, trong tôi đã âm thầm hình thành một tình yêu với miền đất nầy.

Một tình yêu không cần ai dạy.

Không cần sách vở.

Không cần khẩu hiệu.

Nó lớn lên từ mùi khói rơm của má, từ tiếng bàn tính của ba, từ tiếng kinh chùa Khơme, từ vị mắm bần, từ những buổi trưa nằm nghe gió thổi qua hàng dừa nước.

Để rồi sau gần cả một đời người, khi ngồi nhớ lại, tôi mới nhận ra:

Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra.
Quê hương là tất cả những gì đã sống cùng mình trong
những năm tháng đầu đời.

Và những gì đã đi vào ký ức thì dù thời gian có trôi qua bao nhiêu năm, vẫn không dễ gì mất được.

Những năm đầu của thập niên 1950, tôi còn quá nhỏ để hiểu hết những chuyện đang xảy ra chung quanh. Nhưng càng lớn lên, tôi càng nhận ra quê hương mình không bao giờ thật sự thoát khỏi những biến động của thời cuộc.

Chánh quyền miền Nam lúc đó lo củng cố quyền lực và ban hành nhiều chính sách để ổn định đời sống. Các đoàn xây dựng nông thôn được đưa về các vùng quê, giúp dân làm cầu, làm đường, sửa sang trường học, xây dựng những công trình phục vụ đời sống. Chính sách “Người cày có ruộng” cũng được thực hiện. Một số ruộng đất của điền chủ được chính phủ mua lại rồi phân phối cho nông dân. Người dân có thêm đất canh tác nên nhiều nơi rất vui mừng.

Đường sá được mở mang, cầu cống được xây dựng. Trường học từ tỉnh lỵ mở rộng xuống quận, làng. Những vùng quê trước đây đi lại chủ yếu bằng ghe xuồng bắt đầu có đường bộ thuận tiện hơn.

Trên sông nước, một thứ máy móc mới cũng dần xuất hiện.

Đó là những chiếc máy đuôi tôm.

Hồi ấy, người ta thường gọi chiếc máy chạy ghe bằng hiệu Colair. Từ những chiếc xuồng chèo bằng tay, nay chỉ cần kéo máy lên, nổ phành phạch phía sau là chiếc xuồng lao đi vun vút trên mặt nước. Đối với chúng tôi, đó là một thứ gì rất mới mẻ và thích thú. Mỗi khi nghe tiếng máy từ xa vọng lại, bọn trẻ chạy ra bờ sông nhìn theo.

Quê tôi bắt đầu thay đổi từng chút một.

Nhưng cũng trong những năm ấy, một hình thức giải trí mới làm cho cả làng quê náo nức hơn: chiếu phim lưu động.

Mỗi khi nghe tin có đoàn chiếu phim về, người lớn kéo nhau ra sân chợ. Màn ảnh trắng được dựng lên giữa khoảng đất trống. Chiếc máy chiếu đặt trên một chiếc xe cam-nhông. Khi trời vừa tối, ánh đèn từ máy chiếu rọi lên màn ảnh. Cả chợ im phăng phắc nhìn những hình ảnh chuyển động hiện ra trước mắt.

Đối với bọn trẻ chúng tôi, đó là một ngày hội.

Chúng tôi chạy tới chạy lui, chen nhau tìm chỗ đứng, có khi ngồi bệt xuống đất. Người lớn đi xem phim, còn trẻ con thì vừa xem vừa chạy giỡn. Không khí sân chợ tối hôm đó vui như hội.

Tôi còn nhớ có lần đoàn chiếu bộ phim “Chúng Tôi Muốn Sống”, bộ phim do Kiều Chinh đóng. Nội dung phim nói về những biến động ở miền Bắc, về cải cách ruộng đất, những cảnh đấu tố địa chủ và cuộc di cư của rất đông người dân miền Bắc vào miền Nam.

Tôi khi ấy còn nhỏ, chưa đủ hiểu những gì mình đang xem.

Nhưng những hình ảnh trên màn ảnh đã để lại trong tôi một ấn tượng rất sâu.

Đang lúc mọi người chăm chú xem phim thì bất ngờ có những viên đá từ phía ngoài ném vào đám đông.

Mọi người xôn xao.

Có người né tránh, có người la lên. Trẻ con chạy tán loạn. Lính quận và công an tìm xem ai đã ném đá. Nhưng cuối cùng chẳng bắt được ai, hoặc có bắt được thì cũng xem đó chỉ là trò phá phách của trẻ con.

Nhiều năm sau, qua vài người bạn trong nhóm trẻ hôm đó, tôi mới biết câu chuyện phía sau.

Người xúi giục là một anh tên Chí.

Anh Chí có tài thổi kèn harmonica và đánh đàn mandolin rất điệu nghệ. Bọn trẻ thường vây quanh anh để nghe đàn, nên khi anh bảo ném đá thì tụi nhỏ cứ hùa theo cho vui. Chúng đâu biết rằng anh Chí đang có ý phá cuộc chiếu phim.

Sau nầy tôi được biết anh Chí là một cán bộ nằm vùng hoạt động cho phía bên ngoài. Khi bị lộ, anh bỏ trốn vào khu.

Những chuyện như vậy lúc đó đối với tôi chỉ là những chuyện xảy ra chung quanh mình. Mãi về sau, khi đã trưởng thành, tôi mới hiểu rằng trong những trò tưởng như trẻ con ấy đôi khi cũng có bàn tay của một cuộc chiến đang âm thầm len vào đời sống.

Tôi còn được xem nhiều phim thời sự khác.

Có phim nói về những trận đánh giữa quân chính phủ với lực lượng Bình Xuyên, Hòa Hảo. Có phim về những cuộc duyệt binh, những chuyến kinh lý của Tổng thống Ngô Đình Diệm đến các tỉnh thành và vùng nông thôn.

Nhưng trong tất cả những bộ phim ấy, bộ phim “Chúng Tôi Muốn Sống” vẫn để lại trong tôi ấn tượng lâu nhất.

Có lẽ vì đó là lần đầu tiên một đứa trẻ quê như tôi nhìn thấy những cảnh tượng mà trước đó chỉ nghe người lớn kể lại.

Trong khi chính quyền miền Nam đang cố gắng củng cố bộ máy và đưa dân chúng về phía mình thì phía bên kia cũng bắt đầu tổ chức lại lực lượng.

Theo những gì tôi được nghe và hiểu về sau, một số cán bộ Việt Minh còn ở lại miền Nam đã được bố trí nằm vùng. Một số vũ khí được chôn giấu, cất giữ ở những nơi bí mật. Hoạt động tuyên truyền và chống phá chính quyền ngày càng gia tăng.

Ở vùng xa, người dân được tuyên truyền theo phía bên ngoài.

Ở vùng do chính quyền kiểm soát, người dân lại được vận động theo các chính sách của chính quyền miền Nam như dinh điền, khai hoang, lập ấp, mở đường, xây trường và phát triển buôn bán.

Nói một cách đơn giản, cả hai bên đều tìm cách tập hợp dân chúng về phía mình.

Người dân quê chúng tôi ở giữa hai dòng chảy ấy.

Phần đông chỉ muốn có ruộng làm ăn, có chợ để buôn bán, có trường cho con đi học và được sống yên ổn.

Nhưng chiến tranh thì không hỏi người ta có muốn hay không.

Chánh quyền miền Nam biết lực lượng cộng sản còn lại trong dân chúng nên bắt đầu cho công an, mật vụ truy tìm những người bị nghi là cán bộ nằm vùng. Có người bị bắt, có người chạy vào vùng sâu.

Năm 1959, Luật 10/59 được ban hành, đưa hoạt động cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Trong thời kỳ ấy, hình ảnh chiếc máy chém được đưa đi nhiều nơi để thi hành án tử hình đã trở thành một biểu tượng gây kinh hoàng trong lòng nhiều người dân.

Tôi còn nhớ một chuyện xảy ra ở Trà Vinh mà chính mắt tôi đã chứng kiến một phần.

Khoảng năm 1959, nghe tin tại xã Tầm Phương có xử tử một người bị kết tội hoạt động cho phía bên kia bằng máy chém, bọn học trò chúng tôi rủ nhau trốn học, đạp xe hơn mười cây số từ thị xã đến đó xem.

Đó là một ngày mà tôi không thể quên.

Nơi xử tử là một khoảng đất trống, chung quanh có những hàng cây dầu cao lớn. Khi chúng tôi tới nơi, dân chúng đã đứng chen chúc rất đông.

Tôi còn nhớ chiếc máy chém đặt giữa khoảng đất, quay đầu về hướng Chùa Hang.

Tôi không chen được vào bên trong. Mấy người bạn khỏe hơn len lỏi được vào gần. Tôi chỉ đứng phía ngoài, nhón chân cố nhìn nhưng chẳng thấy gì.

Khi chiếc xe bít bùng chở tử tội đến, đám đông xô đẩy nhau. Tôi bị dạt ra phía sau.

Tôi không trực tiếp nhìn thấy cảnh xử tử.

Nhưng sau đó, những người bạn chen được vào trong kể lại cho tôi nghe những gì họ nhìn thấy.

Theo lời kể của họ, sau khi bản án được đọc, hai người cảnh sát mặc trang phục màu trắng mở cửa xe đưa tử tội ra. Người tử tội bị trùm kín đầu bằng một chiếc bao màu đen. Họ đặt ông ta nằm sấp lên bàn máy chém.

Rồi một tiếng hô vang lên.

Lưỡi dao từ trên cao rơi xuống.

Tôi không tận mắt nhìn thấy khoảnh khắc ấy. Nhưng chỉ nghe bạn kể lại thôi mà nhiều năm sau tôi vẫn còn nhớ cảm giác lạnh người.

Đối với một đứa trẻ tuổi mới lớn, đó là lần đầu tiên tôi hiểu rằng cái chết trong chiến tranh không phải là chuyện chỉ có trong sách vở hay ngoài chiến trường.

Nó có thể xảy ra ngay giữa một khoảng đất trống, trước mắt hàng trăm người dân.

Tôi nhớ người bị xử tử mang họ Huỳnh, nhưng đến nay đã quên tên. Vì vậy, tôi chỉ ghi lại theo trí nhớ của mình chứ không dám khẳng định tên tuổi.

Nhiều năm sau, tại Tầm Phương lại xảy ra một chuyện khác mà tôi vẫn còn nhớ.

Có một Trung úy, Trung đội trưởng Pháo binh tên Huỳnh Chí Thiện, được cho là hoạt động cho phía Việt Cộng. Theo lời người dân kể lại, ông ta tổ chức cho binh lính trong trung đội ăn nhậu rồi bỏ ngỏ vị trí để lực lượng bên ngoài xâm nhập.

Sau đó xảy ra một vụ thảm sát rất đau lòng.

Các binh sĩ cùng vợ con của họ bị sát hại. Hai quả đạn pháo được bắn về phía tỉnh nhưng rơi ra ngoài khu vực dinh tỉnh.

Người ta kể rằng một viên Thượng sĩ trong đơn vị còn sống sót. Ông bị bắn vào đầu nhưng viên đạn chỉ sượt qua da. Trong lúc nguy cấp, ông giả chết nên mới thoát được.

Theo lời ông kể lại, chính viên sĩ quan chỉ huy đã bắt ông điều chỉnh pháo bắn. Ông cố tình điều chỉnh lệch hướng một chút nên đạn không rơi trúng mục tiêu. Sau đó khi toán tấn công rút đi, ông bị bắn vào đầu nhưng may mắn sống sót.

Tôi nghe những chuyện ấy từ nhiều người khác nhau qua những năm tháng sau đó.

Có những chuyện tôi tận mắt thấy.

Có những chuyện tôi chỉ nghe người lớn kể lại.

Vì vậy, đến hôm nay khi ngồi viết hồi ký, tôi luôn tự nhắc mình phải phân biệt rõ hai điều ấy.

Điều gì chính mắt tôi chứng kiến, tôi kể theo ký ức của mình.
Điều gì do người khác kể lại, tôi xin giữ đúng là lời kể.

Bởi thời gian đã đi quá xa.

Những người trong câu chuyện ngày xưa, nhiều người đã nằm xuống. Người còn sống cũng đã già. Có những tên tuổi tôi còn nhớ, có những tên tuổi đã mờ dần trong trí nhớ.

Nhưng những gì xảy ra trên quê hương mình thì không dễ gì quên được.

Từ những buổi chiều nghe loa phát thanh bên gốc tre, những đêm xem phim ngoài sân chợ, những ngày đi học với bạn bè Việt, Khơme, Hoa, cho đến những tin tức về bắt bớ, xử tử và chiến trận...

Tôi dần dần bước ra khỏi tuổi thơ.

Một tuổi thơ tưởng như bình yên, nhưng thật ra đã lớn lên giữa một đất nước đang từng ngày đi vào một cuộc chiến mới.

Và rồi, không ai trong chúng tôi lúc ấy biết rằng những năm tháng tiếp theo sẽ còn đưa gia đình, bà con và cả quê hương tôi đi qua thêm biết bao nhiêu mất mát, chia lìa và biến động.

Khép lại một chặng đường

Rồi tới ngày ra trường.

Tôi xách chiếc vali nhỏ, một mình ra phi trường quân sự, leo lên chiếc phi cơ Caribou của Mỹ. Chiếc máy bay mang tôi ra Côn Sơn để nhận nhiệm sở đầu tiên trong đời.

Lúc ấy, tôi thật sự bước ra khỏi vùng đất quê hương đang chìm trong chiến tranh.

Nhìn quê nhà từ xa, tôi không biết rồi đây cuộc đời mình sẽ đi về đâu. Tôi chỉ biết rằng mình đã đi qua một tuổi thơ đầy biến động: từ những ngày tản cư ở Cồn Cù, những năm tháng nghèo khó bên căn nhà cột tre vách lá, những trận đòn oan ức, những lần chứng kiến cha mẹ khổ cực mưu sinh, cho đến những ngày cắp sách đi học ở Trà Vinh rồi lên Sài Gòn.

Tôi mang theo trong chiếc vali không có bao nhiêu hành trang, nhưng trong lòng lại có cả một quê hương.

Có hình bóng của ba má.

Có tiếng gọi của những đứa em.

Có căn nhà nhỏ bên chợ.

Có những con đường giồng gập ghềnh mà ba từng chở hàng qua lại.

Có những buổi chiều quê nghèo, những mùa mưa bão, những đêm pháo kích làm cả gia đình chui vào căn nhà giữa để tránh đạn.

Và có cả những vui buồn của một thời tuổi trẻ mà sau nầy, dù đi đến đâu, tôi cũng không thể nào quên được.

Tôi không biết chuyến bay ấy sẽ đưa mình đến một cuộc đời như thế nào. Tôi chỉ biết mình đã rời khỏi quê nhà để bắt đầu một chặng đường mới.

Nhưng chính những năm tháng đã sống qua trên mảnh đất ấy đã tạo nên con người tôi.

Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra.

Quê hương còn là những gì đã in dấu vào tâm hồn mình qua từng ngày sống: một mái nhà, một dòng sông, một ngôi chợ, một con đường đất, một tiếng gọi thân quen, một bữa cơm đạm bạc, một bàn tay của mẹ, một tấm lưng của cha.

Và đối với tôi, đó còn là miệt giồng Trà Cú – Trà Vinh, nơi đã nuôi dưỡng tuổi thơ tôi trong những năm tháng đầy gian khó nhưng cũng đầy tình người.

Những gì tôi kể lại ở đây không phải chỉ để nhớ về một gia đình.

Đó còn là một phần ký ức của cả một thế hệ đã sống, đã chịu đựng, đã làm lụng và đã lớn lên giữa những biến động lớn lao của đất nước.

Tôi rời quê khi tuổi đời còn trẻ, nhưng quê hương thì chưa bao giờ rời khỏi tôi.