BA MÁ CHỈ MONG
CÁC CON ĐƯỢC BÌNH YÊN
Đến năm 1972,
chiến tranh lại bước vào một giai đoạn dữ dội.
Tin tức từ chiến
trường ngày nào cũng làm người ta lo âu. Những gia đình có con trong quân ngũ
càng sống trong thấp thỏm.
Gia đình tôi
cũng vậy.
Tôi đã ở trong
quân đội nhiều năm. Một đứa em cũng đã nhập ngũ. Những đứa em trai kế tiếp lại
đang đến tuổi quân dịch.
Ba má bắt đầu
lo.
Có lẽ sau bao
nhiêu năm nhìn các con lần lượt lớn lên giữa chiến tranh, điều ba má mong muốn
nhất không còn là chuyện làm ăn khá giả hay con cái thành đạt đến đâu.
Ông bà chỉ mong:
Đừng mất đứa con nào.
Ba tìm mọi cách
để những đứa em còn lại có thể tiếp tục học hành và tránh phải bước vào cuộc
chiến.
Tôi cũng tìm
cách phụ giúp ba trong khả năng của mình.
Bây giờ nghĩ lại,
tôi hiểu tâm trạng của ba má ngày ấy.
Ba má không nghĩ
đến chuyện lớn lao.
Ông bà cũng chẳng
hiểu hết những tranh chấp chính trị của thời cuộc.
Ba má chỉ là những
người dân bình thường, suốt đời buôn bán, làm lụng để nuôi một đàn con.
Đứa nào đi học
được thì cho đi học.
Đứa nào đi xa
thì mong nó trở về.
Đứa nào mặc áo
lính thì ngày đêm cầu Trời khấn Phật cho nó được bình an.
Có lần tôi tự hỏi:
Ba má có bao giờ ngủ được một giấc thật yên trong những
năm ấy không?
Một người con
đang ở trong quân đội.
Một người con
khác cũng đã nhập ngũ.
Những đứa còn lại
lần lượt lớn lên.
Ngoài kia chiến
tranh vẫn chưa biết ngày nào chấm dứt.
Có lẽ mỗi tiếng
xe dừng trước cửa, mỗi lá thư từ xa gửi về, mỗi lần nghe tin một nơi nào đó có
giao tranh... đều có thể làm lòng người cha, người mẹ giật thót.
Những năm ấy,
tôi đã quen với tiếng súng.
Nhưng ba má thì
không bao giờ có thể quen với chuyện các con mình sống giữa tiếng súng.
Sau này tôi mới
hiểu:
Người lính ra chiến trường mang theo mạng sống của
mình.
Còn cha mẹ ở nhà lại gửi cả trái tim theo những đứa
con ngoài chiến trường.
Chiến tranh
không chỉ có những người cầm súng.
Phía sau họ còn
có những người mẹ ngày đêm cầu nguyện.
Có những người
cha ít nói, chỉ biết nắm tay con trước lúc chia tay mà dặn:
“Ráng giữ gìn sức
khỏe.”
Ba tôi là một
người cha như vậy.
Và má tôi là một
người mẹ như vậy.
Suốt những năm
tháng ấy, điều ba má cầu mong cho đàn con thật ra rất đơn giản:
Sau tất cả, các con vẫn còn đầy đủ để trở về ngồi
chung một mái nhà.
NHỮNG NGÀY CUỐI
THÁNG TƯ
Những tháng đầu
năm 1975, tin tức chiến sự mỗi ngày một dồn dập.
Ở bệnh viện,
chúng tôi thường xuyên theo dõi tình hình qua chiếc radio nhỏ của Y sĩ Thiếu tá
Trịnh Văn Tạo.
Suốt một tuần lễ,
ngày nào ông cũng đặt chiếc radio trên bàn làm việc. Hết giờ, ông vẫn còn ngồi
nán lại nghe tin.
Mỗi ngày, gương
mặt ông lại thêm buồn.
Tôi cũng nghe những
tin tức bất lợi từ nhiều nơi, nhưng trong lòng vẫn chưa tin rằng mọi chuyện có
thể kết thúc nhanh đến như vậy.
Tôi vẫn nghĩ
quân đội còn có thể giữ được tình hình.
Trước đó hơn một
tháng, vào đầu tháng Ba, tôi được Tiểu khu mời sang dự một cuộc họp về kế hoạch
phòng thủ.
Lúc ấy tôi đang
giữ nhiệm vụ Sĩ quan Quản lý kiêm Sĩ quan An ninh Bệnh viện.
Trong buổi họp,
Trung tá Quách Hiển, Tham mưu trưởng Tiểu khu, trình bày tình hình và những
phương án phòng thủ trong trường hợp chiến sự lan đến khu vực.
Tôi bắt đầu cảm
thấy tình hình thật sự nghiêm trọng.
Bệnh viện nằm rất
gần Bộ Chỉ huy Tiểu khu. Phía sau lại có một con sông lớn.
Tôi nghĩ nếu đối
phương bất ngờ vượt sông, chiếm bệnh viện làm vị trí tiến quân thì tình thế sẽ
rất nguy hiểm.
Bệnh viện lúc ấy
có hàng trăm thương binh và bệnh nhân, chưa kể nhân viên cùng gia đình cư ngụ
trong khuôn viên.
Một khi giao
tranh xảy ra tại đây, hậu quả sẽ khó lường.
Trong phần thảo
luận, tôi đứng lên trình bày điều mình lo ngại và đề nghị bố trí thêm lực lượng
bảo vệ phía sau bệnh viện, nhất là khu vực gần bờ sông; đồng thời tăng ánh sáng
để dễ quan sát vào ban đêm.
Đề nghị của tôi
được chấp thuận.
Từ hôm đó, tôi
hiểu rằng bệnh viện không còn đơn thuần chỉ là nơi chữa bệnh nữa.
Chiến tranh đã đến
rất gần.
Những ngày cuối
tháng Tư, tin xấu liên tục truyền về.
Tôi vẫn đi làm mỗi
sáng.
Vẫn bước qua
cánh cửa văn phòng quen thuộc.
Vẫn xem công
văn, trình ký, kiểm tra công việc như những ngày bình thường.
Nhưng chẳng còn
ai thật sự bình thường nữa.
Người ta nói
chuyện với nhau nhỏ hơn.
Chiếc radio được
mở thường xuyên hơn.
Và trên gương mặt
mọi người đều có một câu hỏi mà chưa ai muốn nói thành lời:
Rồi ngày mai sẽ ra sao?
No comments:
Post a Comment