Thursday, September 3, 2026

THỜI NIÊN THIẾU

 

CHƯƠNG 2

THỜI NIÊN THIẾU

QUÊ NỘI, QUÊ NGOẠI TRONG KÝ ỨC

Quê ngoại của tôi ở quận Cầu Ngang, làng Thủy Hòa, nơi người dân còn gọi là ấp Nô Công; quê nội ở quận Trà Cú, làng Long Hiệp, mà bà con địa phương thường gọi là Trà Sất.

Những địa danh ấy đối với người ngoài có thể chỉ là những cái tên trên bản đồ. Nhưng đối với tôi, mỗi cái tên là một phần ký ức: một con đường, một bến nước, một mùa cá, một mùa muối, một mái nhà và cả một tuổi thơ đã đi qua.

Tuổi thơ của tôi gắn với những vùng quê ấy, với những con đường đất, những bờ ruộng, những bãi cát, những dòng kinh và những ngày tháng theo má về thăm quê ngoại.

NHỮNG MÙA THƠ ẤU

Lúc còn nhỏ, mỗi dịp Tết hoặc nghỉ hè, tôi thường được má đưa về thăm quê ngoại. Tôi thích nhất là chạy trên những bãi cát cùng mấy người anh em cô cậu.

Sau mùa vụ, trên những luống khoai vẫn còn sót lại những củ nằm dưới lớp đất. Bọn trẻ chúng tôi tha hồ moi tìm. Có củ vừa đào lên còn nóng hổi, đem ăn ngay, ruột khoai bở, giòn giòn và ngọt lịm.

Những ngày ấy, chỉ một củ khoai tìm được cũng đủ làm chúng tôi vui cả buổi.

Có khi chúng tôi đi đào hang bắt dế đá, dế cơm. Chiều xuống, ông ngoại thường un khói ngoài rẫy bằng phân trâu khô. Khói bay lên, bọ rầy từ trong những bụi cây và đồng ruộng bay tứ tung. Bọn trẻ chúng tôi chạy theo bắt trên những nhánh sầu đâu hoặc những cây đào lộn hột.

Những con ấu trùng sống trong đất, chúng tôi thường gọi là đuông đất. Mỗi khi ông ngoại cuốc đất làm rẫy, bọn trẻ chúng tôi lại tha hồ tìm bắt đuông và dế.

Đuông đất và dế cơm đem rang với muối, ăn với cơm và chan thêm chút nước canh rau, vậy mà ngon đến lạ. Dế thì chỉ cần lặt đầu, bẻ càng. Đuông thì phải ngâm qua nước muối cho nhả đất, rồi làm sạch phần ruột trước khi rang.

Sau này, dì Tám của tôi còn nghĩ ra cách nhét đậu phộng vào bụng con đuông, con dế rồi đem chiên giòn. Món ăn dân dã ấy đối với bọn trẻ chúng tôi khi đó chẳng khác gì một món đặc sản.

Nói đến đuông lại phải nhớ đến đuông chà là.

Hồi nhỏ tôi không thích loại này. Nó to gần bằng ngón chân cái, lại ngo ngoe lúc nhúc, nhìn thấy mà gớm gớm. Nhưng về sau, khi lớn lên, biết lai rai với chút rượu đế Xuân Thạnh, tôi mới thấy món đuông chà là quả thật là một thứ đặc sản rất riêng của miền quê.

Đuông chà là là ấu trùng của một loài bọ cánh cứng sống trong thân cây họ cau, chà là. Những cây chà là ngày trước mọc khá nhiều ở vùng Bến Giá, Long Toàn. Người quê có kinh nghiệm nhìn cây chà là nào mà đọt bị quặt, bị héo hoặc gãy khác thường thì đoán ngay bên trong có thể có đuông.

Cây được đốn xuống, người ta lấy dao đẵn từng khúc gần phần ngọn rồi bó lại đem ra chợ bán. Có nơi bó thành từng chục ngọn.

Những thứ tưởng như rất bình thường của đồng quê ngày ấy, bây giờ nhớ lại mới thấy đó chính là một phần của tuổi thơ tôi.

Rồi còn món khô cá khoai trộn giấm với lá sầu đâu thái nhỏ. Vị chua, vị đắng, vị mặn của cá khô hòa với nhau, ăn lai rai cũng thấy “tới” lắm.

Ngày ấy, những món ăn ấy chẳng ai gọi là đặc sản. Chỉ là những gì quê mình có.

Nhưng chính những thứ bình dị ấy lại theo người ta suốt một đời.

BỮA CƠM VỚI ÔNG NGOẠI

Hồi đó, những bữa cơm trưa đôi khi tôi ngồi ăn với ông ngoại trong cái chòi nhỏ ngoài rẫy, được cất gần một bụi tre gai.

Ông ngoại ít nói. Lại thêm ông bị lãng tai nên tôi rất ít khi nói chuyện được với ông mỗi lần về thăm.

Mỗi lần má dẫn tôi về nhà ngoại, vừa xuống xe đò, vào nhà trong cởi áo ra là tôi chạy ngay ra ngoài rẫy.

Ông ngoại đang cuốc đất. Nhìn thấy tôi, ông ngừng tay, nói:

“Cháu mới qua hử...”

Rồi ông lại cúi xuống tiếp tục công việc.

Suốt thời thơ ấu, hình như tôi không có dịp nói chuyện nhiều với ông. Có lẽ vì ông nghe không rõ, mà tôi thì nói quá nhỏ.

Lúc ấy tôi khoảng mười tuổi.

Trong ký ức của tôi, ông ngoại luôn là một người đàn ông ít lời, quanh năm gắn với mảnh rẫy, với cuốc đất, với những luống rau và những ngày nắng gió.

Duy chỉ có một lần tôi còn nhớ rất rõ.

Một lần ông bị bệnh. Má đỡ ông ngồi dậy và mớm cháo cho ông. Tôi đứng gần trước mặt ngoại. Ông nhìn tôi rồi nói:

“Cháu đấm lưng cho ông, ông mỏi quá.”

Tôi hỏi:

“Đấm chỗ nào?”

Ông chỉ cho tôi.

Tôi dùng hai bàn tay nhỏ bé của mình đấm nhẹ hai bên vai ông. Một lúc sau, ông xoa đầu tôi rồi nói:

“Ông thấy khỏe quá!”

Tôi vui lắm.

Tôi đi ngủ và còn hứa khi thức dậy sẽ đấm lưng tiếp cho ông.

Nhưng tôi không có dịp nữa.

Tôi chợt tỉnh giấc vì nghe tiếng má khóc thút thít:

“Cậu ơi... cậu bỏ con đi rồi...”

Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy ông ngoại.

Một cái chết rất bình thường của một người già ở quê, nhưng đối với một đứa trẻ mười tuổi, đó là lần đầu tiên tôi hiểu rằng có những người mình thương, khi đã đi rồi thì không bao giờ trở lại.

CÂU CHUYỆN VỀ HỌ NGOẠI

Theo lời má kể lại, trước khi mất, ông ngoại có trối trăn rằng khi lập mộ bia nên ghi họ Trịnh.

Tôi không biết chuyện ấy có thật sự liên quan đến nguồn gốc dòng họ hay không. Tôi chỉ nhớ lời má kể và từ đó tự suy nghĩ.

Có thể tổ tiên bên ngoại tôi vốn mang họ Trịnh?

Có thể những thế hệ trước đã từ phương Bắc di cư vào phương Nam?

Hay trong những biến động của lịch sử, dòng họ đã có lúc thay đổi họ tên vì hoàn cảnh?

Tất cả những điều đó, đến nay tôi không còn đủ tài liệu để xác nhận.

Tôi chỉ có thể ghi lại như một mảnh ký ức gia đình.

Má tôi gọi ông ngoại bằng tiếng “Cậu”. Cách gọi ấy cũng làm tôi suy nghĩ. Trong nhiều gia đình người Việt ở Nam Bộ, cách gọi “cậu” dành cho người lớn tuổi trong họ ngoại là một tập quán rất quen thuộc. Mặt khác, trong cộng đồng người Hoa, trong đó có người Tiều Châu, cách xưng hô cũng có những âm gọi riêng như A Pa, A Ma...

Có lẽ qua nhiều đời sống xen lẫn, tiếng nói và cách xưng hô của các cộng đồng cũng đã ảnh hưởng lẫn nhau.

Những điều ấy rất khó phân định rạch ròi.

Nhưng chính sự pha trộn ấy lại làm cho đời sống quê tôi có một nét riêng mà tôi đã nghe, đã sống và đã mang theo từ thuở nhỏ.

 

NHỮNG NGƯỜI CẬU BÊN NGOẠI

Họ hàng bên ông bà ngoại tôi sống rải rác ở quận Cầu Ngang và vùng Long Toàn.

Lúc nhỏ, tôi chỉ biết những cậu, mợ, cô, dì sống quanh nhà ông ngoại ở ấp Nô Công, xã Mỹ Hòa. Một số bà con ở xa, tôi chỉ nghe má nhắc tên chứ chưa bao giờ gặp mặt.

Duy có người cậu thứ ba, anh ruột của má, là người tôi còn giữ được một hình ảnh rất mơ hồ trong ký ức.

Khoảng những năm 1940, trong thời kỳ chiến tranh và biến động, cậu tham gia hoạt động kháng chiến. Cậu bị bệnh sốt rét rất nặng. Có lần má dẫn tôi đi rất xa, tận vùng Cồn Ngao, để thăm cậu.

Tôi còn nhớ mang máng gương mặt cậu xương xương, có nhiều nét giống ông ngoại. Người cậu gầy ốm, đôi mắt có vẻ mệt mỏi vì bệnh, nhưng khi nhìn tôi, ánh mắt vẫn rất mạnh.

Cậu gọi tôi và người anh thứ ba, con ruột của cậu, đến bên giường bệnh.

Cậu vuốt đầu hai đứa rồi căn dặn:

“Hai con nhớ ráng học hành đàng hoàng, để trở thành người hữu dụng cho đất nước. Cậu chắc không sống được lâu, vì cậu biết sức mình...”

Nói xong, cậu ngả lưng xuống chiếc vạt tre.

Tôi và anh Ba lại chạy ra ngoài chơi.

Trẻ con ngày ấy đâu hiểu được những lời nói đó có thể là lời từ biệt.

Ngày hôm sau, tôi theo má trở về Cồn Cù.

Từ đó, tôi không còn gặp cậu nữa.

Sau này má mới nói cho tôi biết cậu đã mất và được chôn cất ở vùng ấy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

No comments:

Post a Comment