CHƯƠNG 1
NGUỒN CỘI
Ông nội tôi vốn
là người Tiều Châu chính gốc từ bên Trung Hoa sang Việt Nam lập nghiệp khi ông
còn ngoài hai mươi tuổi. Ông đã từng lập gia đình ở bên đó nhưng chưa có con.
Trong lúc kinh tế khó khăn nơi quê nhà, ông một mình quảy bị, theo đoàn người
tìm đường sinh sống. Nhiều người trong vùng theo đường biển, lần lượt tìm về
phương Nam.
Sau nhiều lần đi
đó đây buôn bán trong vùng Trà Vinh, cuối cùng ông định cư tại làng Long Hiệp,
quận Trà Cú. Tại đây, ông lập gia đình với bà nội tôi, cũng là người gốc Hoa
nhưng gia đình đã đến sinh sống ở vùng đất này từ nhiều đời trước.
Nhắc đến người
Tiều Châu ở miền Tây Nam Bộ, người ta thường nhớ đến câu:
“Bạc Liêu đất ruộng
phì nhiêu,
Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều Châu.”
Câu ca dao ấy phần
nào cho thấy dấu ấn của cộng đồng người Tiều Châu trong đời sống vùng đất
phương Nam. Người Hoa đến Nam Bộ qua nhiều đợt và bằng nhiều con đường khác
nhau. Một bộ phận đến từ các vùng ven biển phía Nam Trung Hoa, theo đường biển
vào các cửa sông, vùng ven biển và những nơi có điều kiện buôn bán thuận lợi. Một
bộ phận khác đến trong những biến động chính trị ở Trung Hoa vào cuối thế kỷ
XVII, thường được lịch sử gọi là người Minh Hương.
Trong quá trình
khai phá phương Nam, người Hoa, người Việt và người Khmer đã cùng hiện diện,
giao lưu và tạo nên những cộng đồng cư dân có tính chất rất đặc biệt. Người Hoa
thường tập trung ở những nơi có chợ búa, bến sông, bến ghe, thuận tiện cho việc
trao đổi hàng hóa. Họ làm nghề buôn bán, mở tiệm thuốc Bắc, tiệm tạp hóa, quán
ăn; rồi dần dần phát triển thêm những cơ sở sản xuất nhỏ như làm tương, chao, đậu
hũ, các nhà máy xay lúa, chành lúa...
Những cộng đồng
người Hoa cũng hình thành các bang, hội theo từng nhóm phương ngữ và nguồn gốc
như Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ... Những sinh hoạt ấy không chỉ có ý
nghĩa về kinh tế mà còn góp phần tạo nên diện mạo văn hóa đa dạng của các đô thị,
thị tứ và chợ quê miền Nam.
Người Việt đến
Nam Bộ cũng trải qua nhiều đợt di dân. Có người từ miền Trung, miền Bắc vào Nam
tìm đất sống; có người theo những đoàn khai phá của các chúa Nguyễn; có người
vì hoàn cảnh gia đình, chiến tranh, thiên tai hoặc vì muốn tìm một vùng đất mới
mà ra đi.
Quá trình ấy diễn
ra trong một thời gian rất dài, không phải chỉ trong một thời điểm duy nhất.
Từ thế kỷ XVII
trở đi, các chúa Nguyễn từng bước mở rộng vùng kiểm soát về phía Nam, đồng thời
tổ chức việc khai phá và lập các đơn vị hành chính mới. Những lưu dân người Việt,
người Hoa và các nhóm cư dân khác cùng tham gia vào quá trình hình thành những
vùng cư trú mới.
Đến cuối thế kỷ
XVIII và đầu thế kỷ XIX, những biến động lớn của lịch sử tiếp tục làm cho dòng
người di chuyển về phương Nam thêm đông đúc. Sau khi Nguyễn Ánh đánh bại Tây
Sơn và lên ngôi Gia Long năm 1802, vùng đất Nam Bộ tiếp tục được tổ chức và
phát triển trong một hệ thống hành chính thống nhất.
Nhưng nếu chỉ
nhìn lịch sử Nam Bộ bằng những mốc triều đại thì vẫn chưa đủ. Đằng sau những
tên gọi của vua chúa, những cuộc chiến tranh và những thay đổi về địa giới là
hàng vạn con người bình thường: người đi khai hoang, người làm ruộng, người
đánh cá, người buôn bán, người làm muối, người dựng nhà, đào kinh, mở đường và
lập làng.
Chính những con
người ấy mới là những người đặt dấu chân đầu tiên lên nhiều vùng đất mà về sau
trở thành quê hương của con cháu họ.
Theo nhiều tài
liệu lịch sử, những nhóm người Hoa di cư xuống phương Nam đã đóng một vai trò
đáng kể trong việc khai phá và phát triển kinh tế ở Nam Bộ. Một số nhân vật và
cộng đồng người Hoa tham gia vào việc mở mang những vùng đất mới, tiêu biểu như
Mạc Cửu ở Hà Tiên và Mạc Thiên Tứ về sau.
Ở Gia Định, Mỹ
Tho, Hà Tiên và nhiều vùng khác, người Hoa tham gia mạnh vào thương mại, thủ
công nghiệp và giao thông đường thủy. Những bến sông, chợ búa, phố thị dần trở
thành nơi giao lưu giữa các cộng đồng cư dân.
Tại vùng Trà
Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, người Hoa cũng sống xen cư với người Việt và người
Khmer. Mỗi cộng đồng mang theo phong tục, tín ngưỡng, nghề nghiệp và cách tổ chức
đời sống riêng; nhưng qua nhiều thế hệ, những yếu tố ấy dần hòa quyện với nhau.
Người Việt thường
mở đất, làm ruộng, làm rẫy, đánh cá, làm muối, làm củi; người Khmer vốn cư trú
lâu đời trong vùng có truyền thống canh tác lúa nước và gắn bó với phum sóc,
chùa chiền; người Hoa nổi bật với hoạt động thương mại, thủ công và dịch vụ.
Tuy nhiên, đó chỉ là những nét khái quát. Trên thực tế, nghề nghiệp của ba cộng
đồng luôn có sự giao thoa.
Chính sự giao
thoa ấy đã tạo nên một vùng văn hóa mà người sau khó có thể phân chia rạch ròi
đâu là của riêng người Việt, đâu là của riêng người Hoa, đâu là của riêng người
Khmer.
BA SẮC DÂN VÀ MỘT
VÙNG VĂN HÓA
Trà Vinh là một
trong những vùng đất tiêu biểu cho sự giao thoa ấy.
Người Khmer có
chùa Khmer, phum sóc, lễ hội và những sinh hoạt văn hóa riêng. Người Hoa có miếu,
hội quán, tín ngưỡng Quan Công và những phong tục truyền thống được mang theo từ
quê cũ. Người Việt có đình làng, chùa, nhà thờ và nhiều hình thức tín ngưỡng
dân gian.
Về sau, vùng đất
này còn có sự hiện diện của Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và nhiều sinh hoạt tín
ngưỡng khác.
Tất cả cùng tồn
tại, tiếp xúc và ảnh hưởng lẫn nhau qua nhiều thế hệ.
Ba cộng đồng cư
dân sống xen kẽ đã làm nên một nền văn hóa miền đất giồng rất đa dạng và phong
phú.
VÌ SAO GỌI LÀ ĐẤT
GIỒNG?
Gọi là đất giồng
bởi vùng đất này có những dải đất cao, thường là những giồng cát hoặc những
vùng đất tương đối cao hơn chung quanh, hình thành trong quá trình bồi tụ lâu
dài của sông ngòi, biển và các dòng phù sa.
Trà Vinh nằm
trong vùng hạ lưu sông Mekong, giữa hệ thống những nhánh sông lớn và hướng ra
biển Đông. Địa hình nơi đây có đồng bằng, sông rạch, cồn, bãi bồi và những giồng
cát ven biển. Chính điều kiện tự nhiên ấy đã tạo nên một không gian cư trú rất
đặc biệt.
Những vùng đất
cao ráo trên các giồng thường là nơi con người chọn để dựng nhà, lập xóm, trồng
cây ăn trái và tổ chức đời sống. Phía giữa các giồng có những vùng trũng hơn,
thuận lợi cho việc giữ nước và canh tác lúa.
Đất cứ tiếp tục
được bồi đắp qua thời gian. Những bãi bồi mới xuất hiện, những cồn mới hình
thành, rồi con người lại tìm đến khai phá.
Có những dải đất
chưa nổi hẳn lên khỏi mặt nước, dân gian gọi là lương. Ghe thuyền đi lại trong
vùng cửa sông, ven biển nếu không quen luồng lạch rất dễ mắc cạn trên những con
lương ấy. Có khi chân vịt bị cong, có khi đáy ghe bị va đập hư hỏng.
Đó là những kinh
nghiệm mà người dân vùng sông nước truyền từ đời này sang đời khác.
No comments:
Post a Comment