Thursday, September 3, 2026

CUỘC SỐNG TRÊN ĐẤT MỸ

 

Chương 3

CUỘC SỐNG TRÊN ĐẤT MỸ

Đứa em rể, người đứng ra bảo trợ cho gia đình tôi, ra đón chúng tôi tại phi trường San Francisco.

Sau khi hoàn tất một vài thủ tục, em đưa cả gia đình ra bãi đậu xe. Bước chân ra khỏi phi trường, tôi đứng nhìn quanh. Trước mắt tôi là những con đường rộng lớn, những ngôi nhà cao tầng trên các triền đồi, những khối cao ốc sừng sững giữa một thành phố xa lạ.

Tôi bỗng có một cảm giác rất khó tả: Mình thật sự đã đặt chân lên đất Mỹ rồi sao?

Đây là một đất nước mà trước kia, có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng một ngày nào đó mình có thể đặt chân đến.

Chiếc xe đưa gia đình chúng tôi rời phi trường, hòa vào dòng xe tấp nập trên đường. Xe cộ đông đúc, thành phố ồn ào, vậy mà tôi lại cảm nhận được một sự bình yên và trật tự lạ thường. Cả gia đình gần như im lặng, mỗi người nhìn qua một ô cửa kính, ngắm đất nước mới đang lần lượt hiện ra trước mắt.

Đêm đầu tiên trên đất Mỹ, tôi nằm trên một tấm nệm dày và êm. Chung quanh yên tĩnh đến lạ lùng. Không có tiếng chó sủa, không nghe tiếng gà gáy giữa khuya, cũng không còn những tiếng động quen thuộc của xóm giềng như những năm tháng ở quê nhà.

Nhưng chính trong sự yên tĩnh ấy, tôi lại không ngủ được.

Giấc ngủ lúc chập chờn, lúc chìm sâu, rồi những ký ức buồn của một quãng đời đã qua lại hiện về trong những cơn mộng. Những chuyện tưởng đã nằm im đâu đó trong tận đáy tâm thức bỗng lần lượt trở lại.

Sáng hôm sau thức dậy, nhìn ánh sáng bên ngoài cửa sổ, tôi mới thật sự tin rằng mình đang ở trên đất Mỹ.

Một cuộc đời khác đang bắt đầu.

Tôi không biết phía trước sẽ còn bao nhiêu gian nan, nhưng ít nhất, vào buổi sáng hôm ấy, tôi cảm thấy mình và các con đã có một cơ hội để bước vào một tương lai tốt đẹp hơn.

Tôi thầm khấn:

Xin cảm ơn Trời Phật.
Xin cảm ơn Đấng Thiêng Liêng đã đưa gia đình tôi đến được bến bờ bình yên này.

Nhờ sự giúp đỡ tận tình của đứa em rể, chẳng bao lâu gia đình tôi thuê được một nơi ở. Với khoản trợ cấp ban đầu của Chính phủ Mỹ cùng phiếu thực phẩm, chúng tôi tạm đủ trang trải cuộc sống hằng tháng. Các con tôi cũng được ghi danh đi học.

Nhưng tôi hiểu rất rõ: trợ cấp chỉ giúp gia đình mình đứng dậy trong những ngày đầu. Muốn sống lâu dài trên đất nước này, mình phải đi làm.

Chỉ một tuần sau ngày đến Mỹ, tôi bắt đầu công việc đầu tiên.

Qua sự giới thiệu của một người đồng hương quê Trà Vinh, tôi đi phụ cắt cỏ cho một người quen của anh.

Tôi vẫn còn nhớ buổi đi làm đầu tiên ấy.

Từ sáng đến xế chiều, tôi gồng mình làm việc gần như không nghỉ. Công việc chân tay vốn không quen khiến người tôi rã rời. Vậy mà trong lúc đang cố sức làm cho xong, tôi lại gặp một người ăn nói thô lỗ, chửi thề và văng tục. Có lúc nóng giận quá, tôi suýt cầm cây cào đất mà đánh hắn.

May mà tôi còn kịp dằn mình xuống.

Tối hôm ấy, tôi nói với người đồng hương:

— Tôi không đi làm nữa.

Trong lòng vừa giận, vừa tủi.

Ngày trước, có lẽ tôi chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ có một ngày mình phải đứng giữa một xứ sở xa lạ, cầm cây cào, đổ mồ hôi làm thuê và nghe người khác nặng lời với mình.

Nhưng đó chính là bài học đầu tiên của tôi trên đất Mỹ.

Buổi đầu tiên đi làm.
Buổi đầu tiên đổ mồ hôi.
Và cũng là buổi đầu tiên tôi hiểu rằng cuộc sống mới sẽ không dễ dàng như mình từng tưởng.

Tôi bắt đầu nhận ra một điều rất quan trọng: muốn tồn tại trên đất nước này, trước hết phải biết tiếng Anh.

Vợ chồng tôi ghi danh học Anh ngữ tại một trường trung học gần nhà, cũng chính là nơi các con tôi học ban ngày.

Ban ngày lo chuyện cơm áo.

Ban đêm đi học.

Cuộc đời của một gia đình mới định cư bắt đầu như thế.

Với số tiền trợ cấp ít ỏi, gia đình chúng tôi chỉ vừa đủ trang trải những nhu cầu căn bản. Muốn có một chiếc xe để đi lại, muốn các con có thêm vài bộ quần áo mới tươm tất hơn, vợ chồng tôi phải tìm cách kiếm thêm thu nhập.

Nhờ các em tôi bên Úc phụ giúp một số tiền, chúng tôi mua được một chiếc máy may và một máy vắt sổ. Vợ tôi bắt đầu nhận hàng về nhà may gia công. Còn tôi, qua sự giới thiệu của đứa em rể, xin được việc tại một khu chợ Á Đông.

Mỗi ngày, tôi phải thức dậy thật sớm, đón xe buýt đi làm. Chiều tối lại đứng chờ xe buýt trở về nhà.

Tôi nhớ mãi một buổi tối mùa đông năm ấy.

Sau hơn tám giờ tối, vừa trải qua một ngày làm việc mệt nhọc ở khu bán thịt trong chợ, tôi đứng một mình tại trạm xe buýt. Bụng đói cồn cào. Cái lạnh mùa đông cứ luồn qua lớp áo mỏng khiến người tôi càng thêm mệt mỏi.

Phía bên kia đường là một nhà hàng sáng choang ánh đèn.

Tôi đứng nhìn từng đôi, từng cặp dìu nhau bước vào. Qua khung cửa kính, bên trong là ánh sáng ấm áp, là những bàn ăn, là người ta ngồi bên nhau chuyện trò.

Còn tôi đứng bên này đường.

Một mình.

Giữa trời đông lạnh buốt, bụng đói quặn lên từng cơn, chỉ mong chiếc xe buýt mau tới để được trở về nhà.

Bất giác, nước mắt tôi chảy xuống.

Tôi tự hỏi:

“Đây là miền đất hứa sao? Sao những ngày đầu của đời tôi trên miền đất hứa lại cơ cực đến thế này?”

Nhưng rồi tôi cũng hiểu, chẳng có miền đất hứa nào mà vừa đặt chân tới là mọi thứ đã sẵn sàng. Muốn có một đời sống mới, mình phải bắt đầu lại từ đầu, đôi khi từ những công việc cực nhọc nhất.

Sau hơn hai tuần làm việc ở khu chợ, tôi bị cảm nặng. Trời đang mùa đông mà công việc lại buộc tôi thường xuyên ra vào phòng đông lạnh, tay phải tiếp xúc với những tảng thịt lạnh buốt.

Tôi nghỉ hai ngày.

Thời ấy nhà chưa có điện thoại nên tôi không thể gọi báo cho chủ biết.

Khi khỏe lại và trở vào làm, bà chủ gọi tôi đến, trao cho tôi số tiền công của hai tuần rồi cho tôi nghỉ việc.

Tôi cố giải thích lý do mình vắng mặt, nhưng bà chỉ lắc đầu.

Tôi cầm nhúm tiền công bước ra khỏi chợ, trong lòng nặng trĩu.

Đó là nỗi buồn thứ hai trong những ngày đầu đi làm trên đất Mỹ, sau lần đi phụ cắt cỏ.

Vậy là tôi lại trở về nhà, phụ vợ may đồ gia công. Mỗi tối, hai vợ chồng vẫn đều đặn đến trường học ESL.

Một mùa đông lạnh giá nơi xứ người rồi cũng trôi qua.

Và cái Tết đầu tiên trên đất khách đã đến.

Chiều Ba mươi Tết, vợ tôi cố gắng nấu một mâm cơm cúng ông bà. Giữa căn nhà nơi xứ lạ, mùi thức ăn Việt Nam, làn khói nhang và mâm cơm cúng khiến tôi có cảm giác quê nhà như đang trở về đâu đó quanh mình.

Tôi gọi điện thoại sang Úc thăm ba và chúc Tết.

Ở đầu dây bên kia là tiếng của ba.

Ở đầu dây bên này là đứa con đang lưu lạc trên một đất nước cách quê hương nửa vòng trái đất.

Chỉ một tiếng gọi “Ba ơi…” lúc ấy cũng đủ làm lòng tôi chùng xuống.

 

RỒI BA CŨNG ĐI

Ba sang Úc định cư chưa được bao lâu thì lâm bệnh nặng.

Sau Tết, các em điện thoại báo cho tôi biết ba phải vào bệnh viện.

Ba trải qua một cuộc giải phẫu gan.

Tôi ở Mỹ, ngày ngày chờ tin.

Rồi hơn hai tuần sau...

Ba mất.

Tôi không thể sang Úc kịp để nhìn ba lần cuối.

Má mất, tôi không có được một lời từ biệt trọn vẹn.

Ba mất, tôi cũng không được đứng bên giường ông lúc cuối đời.

Hai người đã sinh ra tôi, nuôi tôi khôn lớn, vậy mà khi cả hai nhắm mắt, tôi đều vắng mặt.

Đó là một nỗi đau theo tôi mãi về sau.

Tôi thường nhớ lại lần ba lên tận hậu cứ Tân Hiệp thăm tôi.

Ba ôm tôi vào lòng rồi dặn:

“Ráng giữ gìn sức khỏe và cầu Trời Phật cho tai qua nạn khỏi.”

Ngày ấy tôi còn là một người lính.

Ba sợ tôi chết trước ba.

Không ngờ cuối cùng ba ra đi ở một nơi xa xôi, còn tôi lại ở một phương trời khác.

Ba ơi, con đã không được nhìn thấy ba lần cuối.

Có những món nợ người ta còn có thể trả.

Nhưng món nợ với cha mẹ, đến khi muốn trả thì nhiều khi đã quá muộn.

Qua Tết ít lâu, tôi lại bươn chải tìm việc.

No comments:

Post a Comment