Chương 3
CUỘC SỐNG TRÊN ĐẤT MỸ
Đứa em rể, người
đứng ra bảo trợ cho gia đình tôi, ra đón chúng tôi tại phi trường San
Francisco.
Sau khi hoàn tất
một vài thủ tục, em đưa cả gia đình ra bãi đậu xe. Bước chân ra khỏi phi trường,
tôi đứng nhìn quanh. Trước mắt tôi là những con đường rộng lớn, những ngôi nhà
cao tầng trên các triền đồi, những khối cao ốc sừng sững giữa một thành phố xa
lạ.
Tôi bỗng có một
cảm giác rất khó tả: Mình thật sự đã đặt chân lên đất Mỹ rồi sao?
Đây là một đất
nước mà trước kia, có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng một ngày nào đó mình có
thể đặt chân đến.
Chiếc xe đưa gia
đình chúng tôi rời phi trường, hòa vào dòng xe tấp nập trên đường. Xe cộ đông
đúc, thành phố ồn ào, vậy mà tôi lại cảm nhận được một sự bình yên và trật tự lạ
thường. Cả gia đình gần như im lặng, mỗi người nhìn qua một ô cửa kính, ngắm đất
nước mới đang lần lượt hiện ra trước mắt.
Đêm đầu tiên
trên đất Mỹ, tôi nằm trên một tấm nệm dày và êm. Chung quanh yên tĩnh đến lạ
lùng. Không có tiếng chó sủa, không nghe tiếng gà gáy giữa khuya, cũng không
còn những tiếng động quen thuộc của xóm giềng như những năm tháng ở quê nhà.
Nhưng chính
trong sự yên tĩnh ấy, tôi lại không ngủ được.
Giấc ngủ lúc chập
chờn, lúc chìm sâu, rồi những ký ức buồn của một quãng đời đã qua lại hiện về
trong những cơn mộng. Những chuyện tưởng đã nằm im đâu đó trong tận đáy tâm thức
bỗng lần lượt trở lại.
Sáng hôm sau thức
dậy, nhìn ánh sáng bên ngoài cửa sổ, tôi mới thật sự tin rằng mình đang ở trên
đất Mỹ.
Một cuộc đời
khác đang bắt đầu.
Tôi không biết
phía trước sẽ còn bao nhiêu gian nan, nhưng ít nhất, vào buổi sáng hôm ấy, tôi
cảm thấy mình và các con đã có một cơ hội để bước vào một tương lai tốt đẹp
hơn.
Tôi thầm khấn:
Xin cảm ơn Trời
Phật.
Xin cảm ơn Đấng Thiêng Liêng đã đưa gia đình tôi đến được bến bờ bình yên này.
Nhờ sự giúp đỡ tận
tình của đứa em rể, chẳng bao lâu gia đình tôi thuê được một nơi ở. Với khoản
trợ cấp ban đầu của Chính phủ Mỹ cùng phiếu thực phẩm, chúng tôi tạm đủ trang
trải cuộc sống hằng tháng. Các con tôi cũng được ghi danh đi học.
Nhưng tôi hiểu rất
rõ: trợ cấp chỉ giúp gia đình mình đứng dậy trong những ngày đầu. Muốn sống lâu
dài trên đất nước này, mình phải đi làm.
Chỉ một tuần sau
ngày đến Mỹ, tôi bắt đầu công việc đầu tiên.
Qua sự giới thiệu
của một người đồng hương quê Trà Vinh, tôi đi phụ cắt cỏ cho một người quen của
anh.
Tôi vẫn còn nhớ
buổi đi làm đầu tiên ấy.
Từ sáng đến xế
chiều, tôi gồng mình làm việc gần như không nghỉ. Công việc chân tay vốn không
quen khiến người tôi rã rời. Vậy mà trong lúc đang cố sức làm cho xong, tôi lại
gặp một người ăn nói thô lỗ, chửi thề và văng tục. Có lúc nóng giận quá, tôi
suýt cầm cây cào đất mà đánh hắn.
May mà tôi còn kịp
dằn mình xuống.
Tối hôm ấy, tôi
nói với người đồng hương:
— Tôi không đi
làm nữa.
Trong lòng vừa
giận, vừa tủi.
Ngày trước, có lẽ
tôi chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ có một ngày mình phải đứng giữa một xứ sở xa lạ,
cầm cây cào, đổ mồ hôi làm thuê và nghe người khác nặng lời với mình.
Nhưng đó chính
là bài học đầu tiên của tôi trên đất Mỹ.
Buổi đầu tiên đi
làm.
Buổi đầu tiên đổ mồ hôi.
Và cũng là buổi đầu tiên tôi hiểu rằng cuộc sống mới sẽ không dễ dàng như mình
từng tưởng.
Tôi bắt đầu nhận
ra một điều rất quan trọng: muốn tồn tại trên đất nước này, trước hết phải biết
tiếng Anh.
Vợ chồng tôi ghi
danh học Anh ngữ tại một trường trung học gần nhà, cũng chính là nơi các con
tôi học ban ngày.
Ban ngày lo chuyện
cơm áo.
Ban đêm đi học.
Cuộc đời của một
gia đình mới định cư bắt đầu như thế.
Với số tiền trợ
cấp ít ỏi, gia đình chúng tôi chỉ vừa đủ trang trải những nhu cầu căn bản. Muốn
có một chiếc xe để đi lại, muốn các con có thêm vài bộ quần áo mới tươm tất
hơn, vợ chồng tôi phải tìm cách kiếm thêm thu nhập.
Nhờ các em tôi
bên Úc phụ giúp một số tiền, chúng tôi mua được một chiếc máy may và một máy vắt
sổ. Vợ tôi bắt đầu nhận hàng về nhà may gia công. Còn tôi, qua sự giới thiệu của
đứa em rể, xin được việc tại một khu chợ Á Đông.
Mỗi ngày, tôi phải
thức dậy thật sớm, đón xe buýt đi làm. Chiều tối lại đứng chờ xe buýt trở về
nhà.
Tôi nhớ mãi một
buổi tối mùa đông năm ấy.
Sau hơn tám giờ
tối, vừa trải qua một ngày làm việc mệt nhọc ở khu bán thịt trong chợ, tôi đứng
một mình tại trạm xe buýt. Bụng đói cồn cào. Cái lạnh mùa đông cứ luồn qua lớp
áo mỏng khiến người tôi càng thêm mệt mỏi.
Phía bên kia đường
là một nhà hàng sáng choang ánh đèn.
Tôi đứng nhìn từng
đôi, từng cặp dìu nhau bước vào. Qua khung cửa kính, bên trong là ánh sáng ấm
áp, là những bàn ăn, là người ta ngồi bên nhau chuyện trò.
Còn tôi đứng bên
này đường.
Một mình.
Giữa trời đông lạnh
buốt, bụng đói quặn lên từng cơn, chỉ mong chiếc xe buýt mau tới để được trở về
nhà.
Bất giác, nước mắt
tôi chảy xuống.
Tôi tự hỏi:
“Đây là miền đất
hứa sao? Sao những ngày đầu của đời tôi trên miền đất hứa lại cơ cực đến thế
này?”
Nhưng rồi tôi
cũng hiểu, chẳng có miền đất hứa nào mà vừa đặt chân tới là mọi thứ đã sẵn
sàng. Muốn có một đời sống mới, mình phải bắt đầu lại từ đầu, đôi khi từ những
công việc cực nhọc nhất.
Sau hơn hai tuần
làm việc ở khu chợ, tôi bị cảm nặng. Trời đang mùa đông mà công việc lại buộc
tôi thường xuyên ra vào phòng đông lạnh, tay phải tiếp xúc với những tảng thịt
lạnh buốt.
Tôi nghỉ hai
ngày.
Thời ấy nhà chưa
có điện thoại nên tôi không thể gọi báo cho chủ biết.
Khi khỏe lại và
trở vào làm, bà chủ gọi tôi đến, trao cho tôi số tiền công của hai tuần rồi cho
tôi nghỉ việc.
Tôi cố giải
thích lý do mình vắng mặt, nhưng bà chỉ lắc đầu.
Tôi cầm nhúm tiền
công bước ra khỏi chợ, trong lòng nặng trĩu.
Đó là nỗi buồn
thứ hai trong những ngày đầu đi làm trên đất Mỹ, sau lần đi phụ cắt cỏ.
Vậy là tôi lại
trở về nhà, phụ vợ may đồ gia công. Mỗi tối, hai vợ chồng vẫn đều đặn đến trường
học ESL.
Một mùa đông lạnh
giá nơi xứ người rồi cũng trôi qua.
Và cái Tết đầu
tiên trên đất khách đã đến.
Chiều Ba mươi Tết,
vợ tôi cố gắng nấu một mâm cơm cúng ông bà. Giữa căn nhà nơi xứ lạ, mùi thức ăn
Việt Nam, làn khói nhang và mâm cơm cúng khiến tôi có cảm giác quê nhà như đang
trở về đâu đó quanh mình.
Tôi gọi điện thoại
sang Úc thăm ba và chúc Tết.
Ở đầu dây bên
kia là tiếng của ba.
Ở đầu dây bên
này là đứa con đang lưu lạc trên một đất nước cách quê hương nửa vòng trái đất.
Chỉ một tiếng gọi
“Ba ơi…” lúc ấy cũng đủ làm lòng tôi chùng xuống.
RỒI BA CŨNG ĐI
Ba sang Úc định
cư chưa được bao lâu thì lâm bệnh nặng.
Sau Tết, các em
điện thoại báo cho tôi biết ba phải vào bệnh viện.
Ba trải qua một
cuộc giải phẫu gan.
Tôi ở Mỹ, ngày
ngày chờ tin.
Rồi hơn hai tuần
sau...
Ba mất.
Tôi không thể
sang Úc kịp để nhìn ba lần cuối.
Má mất, tôi
không có được một lời từ biệt trọn vẹn.
Ba mất, tôi cũng
không được đứng bên giường ông lúc cuối đời.
Hai người đã
sinh ra tôi, nuôi tôi khôn lớn, vậy mà khi cả hai nhắm mắt, tôi đều vắng mặt.
Đó là một nỗi
đau theo tôi mãi về sau.
Tôi thường nhớ lại
lần ba lên tận hậu cứ Tân Hiệp thăm tôi.
Ba ôm tôi vào
lòng rồi dặn:
“Ráng giữ gìn sức
khỏe và cầu Trời Phật cho tai qua nạn khỏi.”
Ngày ấy tôi còn
là một người lính.
Ba sợ tôi chết
trước ba.
Không ngờ cuối
cùng ba ra đi ở một nơi xa xôi, còn tôi lại ở một phương trời khác.
Ba ơi, con đã
không được nhìn thấy ba lần cuối.
Có những món nợ
người ta còn có thể trả.
Nhưng món nợ với
cha mẹ, đến khi muốn trả thì nhiều khi đã quá muộn.
Qua Tết ít lâu,
tôi lại bươn chải tìm việc.
No comments:
Post a Comment