Thursday, September 3, 2026

HỌC LÀM NGƯỜI MIỆT VƯỜN

 

HỌC LÀM NGƯỜI MIỆT VƯỜN

Từ nhỏ tới lớn tôi chỉ quen sống ở chợ.

Cây cuốc, cây xẻng đối với tôi gần như xa lạ.

Tôi không biết vét mương.

Không biết bồi đất.

Không biết mé nhánh, bón phân hay chăm sóc cây trái.

Về sống với gia đình bên vợ, tôi phải học lại từ đầu.

Tôi theo các anh chị bên vợ xuống vườn.

Người ta làm gì, tôi làm theo.

Vét mương.

Bồi đất.

Cào cỏ.

Bón phân.

Tỉa cành.

Đến mùa trái cây, tôi cùng mọi người đi hái.

Có khi chúng tôi qua cồn Phú Đa hái chôm chôm.

Những chùm chôm chôm chín đỏ oằn nhánh.

Hái xong, cả nhà ngồi lựa trái, cho vào những cần xé lớn chờ thương lái tới mua.

Tôi bắt đầu biết cái đau nhói của con kiến đất cắn.

Biết mùi bùn dưới mương.

Biết cảm giác hái một trái chín ngay trên cây rồi đưa lên miệng ăn.

Trái cây miệt vườn có một thứ hương vị rất riêng.

Ngọt.

Thơm.

Và tươi đến mức người ta có cảm giác mình đang ăn cả mùi đất, mùi nắng và mùi cây cỏ của quê nhà.

 

Nhưng có một thứ tôi vẫn chưa bỏ được:

Cà phê.

Sáng sáng, tôi và anh vợ đi bộ ra khu chợ ở vàm kinh Bổn Xồ tìm cà phê uống.

Cà phê miệt vườn lúc ấy chẳng giống thứ cà phê tôi từng quen.

Tôi gọi đùa là:

“Cà phê cơm cháy.”

Mùi vị không ngon lắm.

Nhưng uống riết rồi cũng quen.

Thật ra về sau tôi mới hiểu, đôi khi ly cà phê ngon hay dở không quan trọng bằng chỗ mình ngồi uống nó.

Quán nhìn ra phía vàm kinh.

Buổi sáng, mặt trời vừa lên.

Ánh nắng vàng nhạt trải trên mặt nước.

Gió từ ngoài sông thổi vào mát rượi.

Xa xa, ghe xuồng nhấp nhô.

Trong vườn, những cành cây nặng trái.

Một con chim chuyền từ nhánh này sang nhánh khác rồi cất tiếng hót.

Tôi ngồi đó, cầm ly “cà phê cơm cháy” trên tay mà lòng bỗng thấy nhẹ.

Sau những năm tháng chiến tranh, đời lính, trại cải tạo và những ngày chen chúc ngoài bến xe...

Có lẽ đây là lần đầu tiên sau rất lâu,

tôi lại có thể ngồi yên để nghe một buổi sáng đi qua.

HŨ GẠO CỦA MÁ VỢ

Cuộc sống miệt vườn vốn thanh thản, nhưng rồi hoàn cảnh chung ngày một khó khăn.

Nông sản làm ra không dễ đem đi nơi khác bán. Có năm nước sông Cổ Chiên dâng cao, nhiều nơi bờ bao bị vỡ, cây trái thất mùa. Lại thêm nạn rầy nâu, lúa gạo càng trở nên thiếu thốn.

Nhiều gia đình bắt đầu phải ăn cơm độn khoai, độn bo bo.

Gia đình chúng tôi tuy chưa đến nỗi thiếu gạo, nhưng cũng phải dè sẻn và chuẩn bị cho những ngày khó khăn hơn.

Má vợ tôi thương con gái, thương các cháu, nhưng có lẽ bà còn thương cả chàng rể vốn quen sống ở chợ như tôi.

Bà sợ tôi không quen cảnh thiếu thốn.

Trong nhà chúng tôi có một hũ gạo.

Thỉnh thoảng tôi nhận thấy hũ gạo đã vơi đi, vậy mà hôm sau lại đầy lên.

Ban đầu tôi không để ý.

Sau mới biết má vợ thường lén sang mở nắp hũ xem.

Thấy gạo sắp hết, bà âm thầm đem gạo nhà mình sang đổ thêm.

Bà chẳng nói với tôi.

Tôi cũng làm như không biết.

Có lần tôi nghe bà nói với các anh chị bên vợ:

“Tao có ba thằng rể, mà sao tao thương thằng L. quá bây. Tội nghiệp nó dân chợ, sung sướng từ nhỏ, bây giờ về đây sống kham khổ quá...”

Nghe vậy, tôi vừa thương vừa mắc cỡ.

Tôi đã là một người đàn ông có vợ con.

Đã từng đi qua chiến tranh.

Đã từng chịu những tháng năm tù tội.

Vậy mà về đây, tôi vẫn được một người mẹ khác âm thầm lo cho từng lon gạo.

Có những tình thương không cần nói thành lời.

Chỉ cần nhìn một hũ gạo sáng nay bỗng đầy hơn hôm qua...

là đủ hiểu lòng của một người mẹ.

 

NHỮNG ĐÊM BA VỢ SANG NẰM VỚI TÔI

Ba vợ tôi cũng sợ tôi buồn.

Buổi tối, ông thường bước sang căn nhà lá nhỏ của vợ chồng tôi, nằm trên chiếc giường phía ngoài rồi nói chuyện.

Ông kể cho tôi nghe chuyện đời mình.

Thuở còn nghèo, ông từng đi chăn vịt chạy đồng.

Vợ chồng làm lụng, dành dụm từng chút mới mua được mảnh đất để cất nhà, rồi gây dựng thêm vườn tược và ruộng đất.

Con cái lớn lên lại cùng cha mẹ gánh vác.

Từng liếp vườn, từng công ruộng cứ thế mà có.

Tôi nghe ông kể mới hiểu rằng cái cảnh miệt vườn cây trái sum sê trước mắt mình không phải tự nhiên mà có.

Đằng sau nó là cả một đời người cặm cụi.

Ba vợ tôi rất cần cù.

Nhưng những năm tháng cơ cực thời trẻ cũng để lại trên người ông nhiều bệnh tật. Ông bị bệnh phổi, thỉnh thoảng đang nói chuyện lại ho húng hắng.

Vậy mà đêm nào ông cũng sang.

Có lẽ ông chẳng có chuyện gì quan trọng để nói.

Ông chỉ sợ tôi, một người từ nơi khác về, nằm trong căn nhà lá giữa vườn cây thanh vắng mà buồn.

Có hôm ông nói:

“Trước đây đời sống miệt vườn thoải mái lắm con. Nhà cậu ngoài đất vườn còn có đất ruộng. Ruộng làm một mùa ăn đủ quanh năm. Trái cây thì có sẵn quanh nhà... Tình trạng này chắc tạm thôi con, rồi sẽ qua đi.”

Tôi biết ông đang an ủi tôi.

Tôi cũng không muốn ông lo nên chỉ cười:

“Dạ, con ở đây được mà cậu.”

Ngoài vườn, tiếng côn trùng vẫn rỉ rả.

Gió lùa qua vách lá.

Hai người đàn ông, một già một trẻ, nằm nói chuyện với nhau cho đến khuya.

Bây giờ nhớ lại, tôi mới hiểu:

Má vợ sợ tôi đói nên lén đổ thêm gạo vào hũ.

Ba vợ sợ tôi buồn nên tối tối sang nằm nói chuyện.

Ông bà chẳng cho tôi những điều gì lớn lao.

Nhưng chính những điều nhỏ bé ấy đã giúp vợ chồng tôi đi qua một quãng đời rất khó khăn.

MỘT THỜI MIỆT VƯỜN

Tôi vẫn nhớ miệt vườn những ngày trước đó.

Khi gió chướng bắt đầu thổi, buổi sáng trời se lạnh.

Sương phủ trên những tàu lá dừa.

Cây cóc gần nhà rụng bớt lá, để lộ những trái xanh bóng.

Mận hồng đào đỏ trên cành.

Cam, quýt, xoài, chôm chôm trĩu trái.

Dòng sông trong veo, gợn những con sóng nhỏ.

Lục bình dạt vào đám chà ven sông, nở những bông hoa tím.

Cây mai già trước sân bắt đầu đầy nụ.

Trong nhà, người lớn chuẩn bị bánh trái.

Ngoài sân, trẻ con chạy tới chạy lui.

Tết miệt vườn vui lắm.

Bà con gặp nhau là mời ăn, mời uống.

Nhà có giỗ, có cưới, có chuyện vui thì hàng xóm kéo tới phụ.

Có khi chỉ cần con gà ngoài sân, ít rau trong vườn và một chai rượu đế là thành một cuộc vui.

Đêm xuống, người lớn ngồi chuyện trò.

Có người ngà ngà say, cười vang.

Ngoài con đường đất, ánh đuốc lá dừa chập chờn.

Xa ngoài vàm kinh, những chiếc ghe câu lúc lắc trên mặt nước với ngọn đèn nhỏ leo lét.

Miệt vườn không vội vàng như miệt chợ.

Người ta sống gần nhau hơn.

Có gì ăn nấy.

Có gì chia nấy.

Tôi đã có một quãng đời như vậy ở Chợ Lách.

Không dài.

Nhưng đủ để sau này đi xa, mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn còn nghe được tiếng côn trùng trong đêm, mùi hoa bưởi trong gió...

và nhớ nhất là cái hũ gạo cứ vơi rồi lại đầy lên trong căn nhà lá nhỏ của vợ chồng tôi.

No comments:

Post a Comment