HỌC LÀM NGƯỜI MIỆT
VƯỜN
Từ nhỏ tới lớn
tôi chỉ quen sống ở chợ.
Cây cuốc, cây xẻng
đối với tôi gần như xa lạ.
Tôi không biết
vét mương.
Không biết bồi đất.
Không biết mé
nhánh, bón phân hay chăm sóc cây trái.
Về sống với gia
đình bên vợ, tôi phải học lại từ đầu.
Tôi theo các anh
chị bên vợ xuống vườn.
Người ta làm gì,
tôi làm theo.
Vét mương.
Bồi đất.
Cào cỏ.
Bón phân.
Tỉa cành.
Đến mùa trái
cây, tôi cùng mọi người đi hái.
Có khi chúng tôi
qua cồn Phú Đa hái chôm chôm.
Những chùm chôm
chôm chín đỏ oằn nhánh.
Hái xong, cả nhà
ngồi lựa trái, cho vào những cần xé lớn chờ thương lái tới mua.
Tôi bắt đầu biết
cái đau nhói của con kiến đất cắn.
Biết mùi bùn dưới
mương.
Biết cảm giác
hái một trái chín ngay trên cây rồi đưa lên miệng ăn.
Trái cây miệt vườn
có một thứ hương vị rất riêng.
Ngọt.
Thơm.
Và tươi đến mức
người ta có cảm giác mình đang ăn cả mùi đất, mùi nắng và mùi cây cỏ của quê
nhà.
Nhưng có một thứ
tôi vẫn chưa bỏ được:
Cà phê.
Sáng sáng, tôi
và anh vợ đi bộ ra khu chợ ở vàm kinh Bổn Xồ tìm cà phê uống.
Cà phê miệt vườn
lúc ấy chẳng giống thứ cà phê tôi từng quen.
Tôi gọi đùa là:
“Cà phê cơm
cháy.”
Mùi vị không
ngon lắm.
Nhưng uống riết
rồi cũng quen.
Thật ra về sau
tôi mới hiểu, đôi khi ly cà phê ngon hay dở không quan trọng bằng chỗ mình ngồi
uống nó.
Quán nhìn ra
phía vàm kinh.
Buổi sáng, mặt
trời vừa lên.
Ánh nắng vàng nhạt
trải trên mặt nước.
Gió từ ngoài
sông thổi vào mát rượi.
Xa xa, ghe xuồng
nhấp nhô.
Trong vườn, những
cành cây nặng trái.
Một con chim
chuyền từ nhánh này sang nhánh khác rồi cất tiếng hót.
Tôi ngồi đó, cầm
ly “cà phê cơm cháy” trên tay mà lòng bỗng thấy nhẹ.
Sau những năm
tháng chiến tranh, đời lính, trại cải tạo và những ngày chen chúc ngoài bến
xe...
Có lẽ đây là lần
đầu tiên sau rất lâu,
tôi lại có thể
ngồi yên để nghe một buổi sáng đi qua.
HŨ GẠO CỦA MÁ VỢ
Cuộc sống miệt
vườn vốn thanh thản, nhưng rồi hoàn cảnh chung ngày một khó khăn.
Nông sản làm ra
không dễ đem đi nơi khác bán. Có năm nước sông Cổ Chiên dâng cao, nhiều nơi bờ
bao bị vỡ, cây trái thất mùa. Lại thêm nạn rầy nâu, lúa gạo càng trở nên thiếu
thốn.
Nhiều gia đình bắt
đầu phải ăn cơm độn khoai, độn bo bo.
Gia đình chúng
tôi tuy chưa đến nỗi thiếu gạo, nhưng cũng phải dè sẻn và chuẩn bị cho những
ngày khó khăn hơn.
Má vợ tôi thương
con gái, thương các cháu, nhưng có lẽ bà còn thương cả chàng rể vốn quen sống ở
chợ như tôi.
Bà sợ tôi không
quen cảnh thiếu thốn.
Trong nhà chúng
tôi có một hũ gạo.
Thỉnh thoảng tôi
nhận thấy hũ gạo đã vơi đi, vậy mà hôm sau lại đầy lên.
Ban đầu tôi
không để ý.
Sau mới biết má
vợ thường lén sang mở nắp hũ xem.
Thấy gạo sắp hết,
bà âm thầm đem gạo nhà mình sang đổ thêm.
Bà chẳng nói với
tôi.
Tôi cũng làm như
không biết.
Có lần tôi nghe
bà nói với các anh chị bên vợ:
“Tao có ba thằng
rể, mà sao tao thương thằng L. quá bây. Tội nghiệp nó dân chợ, sung sướng từ nhỏ,
bây giờ về đây sống kham khổ quá...”
Nghe vậy, tôi vừa
thương vừa mắc cỡ.
Tôi đã là một
người đàn ông có vợ con.
Đã từng đi qua
chiến tranh.
Đã từng chịu những
tháng năm tù tội.
Vậy mà về đây,
tôi vẫn được một người mẹ khác âm thầm lo cho từng lon gạo.
Có những tình
thương không cần nói thành lời.
Chỉ cần nhìn một
hũ gạo sáng nay bỗng đầy hơn hôm qua...
là đủ hiểu lòng
của một người mẹ.
NHỮNG ĐÊM BA VỢ
SANG NẰM VỚI TÔI
Ba vợ tôi cũng sợ
tôi buồn.
Buổi tối, ông
thường bước sang căn nhà lá nhỏ của vợ chồng tôi, nằm trên chiếc giường phía
ngoài rồi nói chuyện.
Ông kể cho tôi
nghe chuyện đời mình.
Thuở còn nghèo,
ông từng đi chăn vịt chạy đồng.
Vợ chồng làm lụng,
dành dụm từng chút mới mua được mảnh đất để cất nhà, rồi gây dựng thêm vườn tược
và ruộng đất.
Con cái lớn lên
lại cùng cha mẹ gánh vác.
Từng liếp vườn,
từng công ruộng cứ thế mà có.
Tôi nghe ông kể
mới hiểu rằng cái cảnh miệt vườn cây trái sum sê trước mắt mình không phải tự
nhiên mà có.
Đằng sau nó là cả
một đời người cặm cụi.
Ba vợ tôi rất cần
cù.
Nhưng những năm
tháng cơ cực thời trẻ cũng để lại trên người ông nhiều bệnh tật. Ông bị bệnh phổi,
thỉnh thoảng đang nói chuyện lại ho húng hắng.
Vậy mà đêm nào
ông cũng sang.
Có lẽ ông chẳng
có chuyện gì quan trọng để nói.
Ông chỉ sợ tôi,
một người từ nơi khác về, nằm trong căn nhà lá giữa vườn cây thanh vắng mà buồn.
Có hôm ông nói:
“Trước đây đời sống
miệt vườn thoải mái lắm con. Nhà cậu ngoài đất vườn còn có đất ruộng. Ruộng làm
một mùa ăn đủ quanh năm. Trái cây thì có sẵn quanh nhà... Tình trạng này chắc tạm
thôi con, rồi sẽ qua đi.”
Tôi biết ông
đang an ủi tôi.
Tôi cũng không
muốn ông lo nên chỉ cười:
“Dạ, con ở đây
được mà cậu.”
Ngoài vườn, tiếng
côn trùng vẫn rỉ rả.
Gió lùa qua vách
lá.
Hai người đàn
ông, một già một trẻ, nằm nói chuyện với nhau cho đến khuya.
Bây giờ nhớ lại,
tôi mới hiểu:
Má vợ sợ tôi đói
nên lén đổ thêm gạo vào hũ.
Ba vợ sợ tôi buồn
nên tối tối sang nằm nói chuyện.
Ông bà chẳng cho
tôi những điều gì lớn lao.
Nhưng chính những
điều nhỏ bé ấy đã giúp vợ chồng tôi đi qua một quãng đời rất khó khăn.
MỘT THỜI MIỆT VƯỜN
Tôi vẫn nhớ miệt
vườn những ngày trước đó.
Khi gió chướng bắt
đầu thổi, buổi sáng trời se lạnh.
Sương phủ trên
những tàu lá dừa.
Cây cóc gần nhà
rụng bớt lá, để lộ những trái xanh bóng.
Mận hồng đào đỏ
trên cành.
Cam, quýt, xoài,
chôm chôm trĩu trái.
Dòng sông trong
veo, gợn những con sóng nhỏ.
Lục bình dạt vào
đám chà ven sông, nở những bông hoa tím.
Cây mai già trước
sân bắt đầu đầy nụ.
Trong nhà, người
lớn chuẩn bị bánh trái.
Ngoài sân, trẻ
con chạy tới chạy lui.
Tết miệt vườn
vui lắm.
Bà con gặp nhau
là mời ăn, mời uống.
Nhà có giỗ, có
cưới, có chuyện vui thì hàng xóm kéo tới phụ.
Có khi chỉ cần
con gà ngoài sân, ít rau trong vườn và một chai rượu đế là thành một cuộc vui.
Đêm xuống, người
lớn ngồi chuyện trò.
Có người ngà ngà
say, cười vang.
Ngoài con đường
đất, ánh đuốc lá dừa chập chờn.
Xa ngoài vàm
kinh, những chiếc ghe câu lúc lắc trên mặt nước với ngọn đèn nhỏ leo lét.
Miệt vườn không
vội vàng như miệt chợ.
Người ta sống gần
nhau hơn.
Có gì ăn nấy.
Có gì chia nấy.
Tôi đã có một
quãng đời như vậy ở Chợ Lách.
Không dài.
Nhưng đủ để sau
này đi xa, mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn còn nghe được tiếng côn trùng trong đêm,
mùi hoa bưởi trong gió...
và nhớ nhất là cái
hũ gạo cứ vơi rồi lại đầy lên trong căn nhà lá nhỏ của vợ chồng tôi.
No comments:
Post a Comment